- Tranh chấp gì? án hình sự — "tràng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trương Tiến Đ.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/HS-PT Ngày: 07/3/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thái
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Cường
Bà Vũ Thị Thanh Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tuấn - Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 12/2024/TLPT-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo Lê Trương Tiến Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 189/2023/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Trương Tiến Đ, sinh năm 2001 tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Nguyễn Đăng K và bà Trương Thị C; sống chung như vợ chồng với Lý Thu T (chưa đăng ký kết hôn); Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng tháng 4/2023 Lê Trương Tiến Đ, sinh năm 2001, trú tại thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Bình Thuận một mình đón xe khách vào khu vực Quận D, thành phố Hồ Chí Minh gặp một người thanh niên không rõ nhân thân lai lịch hỏi mua 04 gói ma túy loại khay và 10 viên thuốc lắc với giá 6.000.000 đồng. Đ đem ma túy về nhà cất giấu trong phòng ngủ mục đích để sử dụng. Đ một mình sử dụng hết 03 gói ma túy loại khay và 8 viên thuốc lắc. Khoảng 14 giờ ngày 25/7/2023 một người bạn quen biết ngoài xã hội tên T gọi điện thoại rủ Đ đến xã P, huyện T để sử dụng ma túy. Đ cất giấu ma túy trong vỏ thuốc lá hiệu Jet rồi đón xe khách đi đến xã P. Khoảng 15 giờ 40 phút cùng ngày trong lúc Đ đứng đợi T tại khu vực Cổng chào thuộc thôn A, xã P, huyện T thì nhìn thấy lực lượng Công an huyện T phối hợp với Công an xã P tuần tra đến nên Đ thả vỏ thuốc lá hiệu Jet bên trong có chứa ma túy xuống đất tại vị trí Đ đứng thì bị phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên mặt đất cách vị trí Đ đang đứng khoảng 40cm 01 vỏ gói thuốc lá hiệu Jet bên trong có 02 gói nylon không màu có nẹp khóa một đầu màu đỏ, kích thước (03 x 03) cm, trong đó 01 gói có chứa 02 viên nén màu xám, một mặt có hình dạng không xác định, mặt còn lại có ký hiệu R (gửi giám định ký hiệu M1) và 01 gói có chứa tinh thể màu trắng (gửi giám định ký hiệu M2). Đ khai nhận viên nén màu xám và tinh thể màu trắng là ma túy loại thuốc lắc và khay cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Thu giữ của Đ 01 điện thoại di động hiệu Iphone 8 plus màu đỏ.
Căn cứ bản Kết luận giám định số 916/KL-KTHS ngày 03/8/2023 của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh B kết luận:
- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,8364 gam chứa MDMA và Diazepam.
- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 1,5186 gam là Ketamine.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 189/2023/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã quyết định:
Căn cứ vào i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Lê Trương Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Trương Tiến Đ 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 08/01/2024, bị cáo Lê Trương Tiến Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Bình Thuận phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trương Tiến Đ; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 189/2023/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
- Ý kiến của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo trở về gia đình chăm sóc cha, mẹ và vợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, được Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục xét xử phúc thẩm.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo Lê Trương Tiến Đ phù hợp với các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 25/7/2023 tại khu vực Cổng chào thuộc Thôn A, xã P, huyện T. Lê Trương Tiến Đ đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,8364 gam MDMA, Diazepam và 1,5186 gam Ketamine với mục đích sử dụng thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang.
Bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đ cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới là đơn xác nhận cha của bị cáo là ông Lê Nguyễn Đăng K có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự từ năm 1996 đến năm 1998 được Ban chỉ huy quân sự xã V xác nhận và kết quả siêu âm bà Lý Thu Thủy T1 là người sống chung như vợ chồng với bị cáo (chưa đăng ký kết hôn) đang mang thai. Xét các tài liệu, chứng cứ bị cáo cung cấp không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo, do bị cáo Đ có hành vi tàng trữ trái phép 02 chất ma túy nên Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 01 năm 06 tháng tù là phù hợp, không nặng. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị cáo về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tại phiên tòa.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trương Tiến Đ. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 189/2023/HS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.
1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lê Trương Tiến Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Lê Trương Tiến Đ 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
2. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Trương Tiến Đ phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (07/3/2024).
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - TAND, VKSND huyện Tuy Phong; - CQCSĐT Công an huyện Tuy Phong; - Chi cục THADS huyện Tuy Phong; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - PV06 – Công an tỉnh Bình Thuận; - Tổ HCTP – TAND tỉnh Bình Thuận; - Lưu: Hồ sơ, Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Thái |