- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Công kh - Tống Thị Th"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn giữa anh Nguyễn Công Kh và chị Tống Thị Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18 - 3 - 2024 V/v: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thư
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thảo Yến và ông Đỗ Văn Sơn
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Khánh Huyền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Hồ Thị Lê - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2023/TLST - HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2023 về Tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Công Kh, sinh năm: 1979;
Trú tại: Phòng 307, tầng 3, chung cư H 2, phường K, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; (Có mặt)
Bị đơn: Chị Tống Thị Th, sinh năm 1985;
Trú tại: Phòng 307, tầng 3, chung cư H 2, phường K, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh; (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là anh Nguyễn Công Kh trình bày:
Anh Nguyễn Công Kh kết hôn với chị Tống Thị Th vào ngày 08/1/2010. Trước khi cưới hai bên có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Trạm Lộ, huyện Thận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi đăng ký kết hôn, vợ chồng anh Kh, chị Th sống tại Khu tập thể Trung tâm văn hóa tỉnh Bắc Ninh. Thời gian đầu vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, cho đến sau khi sinh con thứ nhất thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Khoảng 1 năm trở lại đây vợ chồng tuy sống chung nhà nhưng ở phòng riêng và không trao đổi gì với nhau ngoài chuyện con cái. Vì vậy, anh Kh đề nghị được ly hôn với chị Th.
Về con chung: Vợ chồng anh Kh, chị Th có 02 con chung là Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 30/4/2011 và Nguyễn Tuấn Ph, sinh ngày 19/7/2018. Vợ chồng ly hôn anh Kh đồng ý để chị Th nuôi cả 2 con và sẽ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 3.000.000 đồng/tháng cho cả hai con.
Về tài sản chung, công nợ: Vợ chồng tự thỏa Thận về tài sản, công nợ và không yêu cầu Toà án giải quyết.
Phía bị đơn là chị Tống Thị Th trình bày: Cuộc sống vợ chồng luôn hòa thuận, hạnh phúc không hề phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân anh Kh làm đơn ly hôn là do anh Kh có tình cảm với người khác. Vào đầu năm 2023 chị Th phát hiện anh Kh có mối quan hệ bất chính với chị Nguyễn Thị Th Th, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Ng, khu Th, phường Vũ Ninh, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Chị Th cũng đã nhiều lần nói chuyện khuyên giải chồng cũng như gặp chị Th để khuyên hai người chấm dứt mối quan hệ tình cảm trên. Tuy nhiên, đến hiện tại, chị Th đang mang thai con của anh Kh và liên tục lăng mạ, khủng bố tinh thần chị Th trên mạng xã hội. Vì vậy, đối với yêu cầu xin được ly hôn của anh Nguyễn Công Kh, chị Th cho rằng vẫn còn tình cảm với anh Kh, giữa hai vợ chồng không có mâu thuẫn nên không đồng ý yêu cầu xin ly hôn.
Về con chung, về tài sản, công nợ: Do không đồng ý ly hôn nên chị Th chưa đưa ra quan điểm về các vấn đề khác.
Người làm chứng là chị Phạm Thị Ng, chị Lưu Thị M, anh Hoàng Tiến Ng và chị Dương Thị V (bạn chung của anh Kh và chị Th) trình bày: Mọi người đi theo định vị xe máy của anh Kh. Khi đến nhà chị Th thì cửa đóng, xe anh Kh để trong nhà. Gọi cửa không ai ra mở mà 1 lúc sau thì anh Kh chạy ra từ cửa sau bị bắt gặp. Lúc này tất cả mọi người cùng vào nhà nói chuyện thì trong nhà chỉ có chị Th. Lúc sau, có mẹ đẻ của chị Th đến nhà cùng nói chuyện. Mẹ đẻ chị Th có hứa sẽ không để anh Kh và chị Th không qua lại với nhau nữa.
Sau lần đầu bị bắt gặp tại nhà riêng của chị Th thì chị Th chuyển lên ở chung cư Royal Park sinh sống. Lần này mọi người đi theo sau anh Kh và đứng chờ ở ngoài cửa phòng cho đến khi anh Kh ra thì tất cả lại vào phòng nói chuyện. Trong phòng cũng vẫn chỉ có một mình chỉ Th. Một lúc sau mẹ đẻ chị Th đến tiếp tục nhận sai và đảm bảo sẽ không để anh Kh, chị Th qua lại với nhau nữa.
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Công Kh giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn. Anh Kh không thừa nhận có tình cảm với người phụ nữ khác mà cho rằng vợ chồng từ khi lấy nhau đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng tiếp tục chung sống chỉ vì con cái. Bản thân anh Kh thấy không được tôn trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Th. Tuy nhiên, anh Kh không đưa ra được chứng cứ chứng minh việc mâu thuẫn giữa hai vợ chồng.
Về con chung: Vợ chồng anh Kh, chị Th có 02 con chung là Nguyễn Tuấn K, sinh ngày 30/4/2011 và Nguyễn Tuấn Ph, sinh ngày 19/7/2018. Vợ chồng ly hôn anh Kh đồng ý để chị Th nuôi cả 2 con và sẽ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng là 3.000.000 đồng/tháng cho cả hai con.
Về tài sản chung, công nợ: Vợ chồng tự thỏa Thận về tài sản, công nợ và không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn là chị Tống Thị Th khẳng định lời trình bày của anh Kh là không đúng. Để dẫn đến mâu thuẫn gia đình là do anh Kh có người phụ nữ khác ở bên ngoài, có con. Chị Th trình bày mặc dù biết anh Kh có tình cảm với người khác nhưng chị vẫn còn tình cảm với anh Kh, đề nghị tòa án bác đơn xin ly hôn của anh Kh để vợ chồng đoàn tụ và tiếp tục chung sống với nhau.
Về các vấn đề khác do không đồng ý ly hôn nên chị Th không trình bày quan điểm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến đã đánh giá việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn là đúng pháp luật.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Công Kh. Anh Nguyễn Công Kh không được ly hôn với chị Tống Thị Th.
- Về con chung: Không đề cập giải quyết do yêu cầu ly hôn không được chấp nhận.
- Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Kh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện, các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Xác định tranh chấp giữa anh Nguyễn Công Kh và chị Tống Thị Th là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn là chị Tống Thị Th có đăng ký hộ khẩu thường trú và hiện trú tại Phòng 307, tầng 3, chung cư H 2, phường K, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án là đúng thẩm quyền.
Về nội dung vụ án: Anh Nguyễn Công Kh kết hôn với chị Tống Thị Th vào ngày 08/1/2010. Trước khi kết hôn hai bên có được tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã Trạm Lộ, huyện Thận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Như vậy anh Kh, chị Th đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Căn cứ vào lời khai của các đương sự, lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì thấy: Trong quá trình chung sống từ năm 2010 đến khoảng đầu năm 2023, anh Kh và chị Th sống với nhau hạnh phúc và đã có 02 con là Nguyễn Tuấn K và Nguyễn Tuấn Ph. Tại phiên tòa hôm nay, anh Kh trình bày sau khi sinh con thứ nhất vợ chồng đã phát sinh mâu Thuẫn, hai vợ chồng nảy sinh bất đồng quan điểm không thể hòa giải được nay đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị Th. Tuy nhiên, tại phiên tòa và cả quá trình giải quyết vụ án, anh Kh không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu xin ly hôn của mình là có căn cứ. Ngoài ra việc anh Kh trình bày sau khi sinh con thứ nhất đã phát sinh mâu thuẫn là không đúng. Bởi lẽ năm 2011 anh Kh và chị Th có con chung Nguyễn Tuấn K thì đến năm 2018, anh Kh chị Th có con chung thứ hai là Nguyễn Tuấn Ph. Còn theo chị Th trình bày thì không có việc vợ chồng mâu Thuẫn như lời trình bày của anh Kh. Việc anh Kh xin ly hôn là do có tình cảm với người phụ nữ khác, lời khai của chị Th còn được khẳng định bởi lời khai của 04 người làm chứng là bạn chung của cả anh Kh và chị Th. Nay chị Th không đồng ý ly hôn vì vẫn còn tình cảm với anh Kh và mong gia đình được đoàn tụ.
Xét thấy: Việc anh Kh đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp với chị Th nhưng lại có quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với người phụ nữ khác là vi phạm Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng. Từ việc không chung thủy với vợ nên anh Kh ruồng rẫy, xa lánh vợ làm cho tình cảm vợ chồng xa cách và căng thẳng. Mặc dù như vậy, chị Th khẳng định vẫn còn tình cảm với anh Kh và sẵn sàng tha thứ cho anh Kh về với gia đình. Vì vậy, để tạo điều kiện cho anh Kh, chị Th đoàn tụ với nhau cần xử bác đơn xin ly hôn của anh Nguyễn Công Kh.
Về con chung: Không đề cập giải quyết do yêu cầu ly hôn không được chấp nhận.
Về tài sản, công nợ: anh Kh, chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí: Anh Nguyễn Công Kh phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 235, 264, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn giữa anh Nguyễn Công Kh và chị Tống Thị Th.
2. Về con chung: Không đề cập giải quyết do yêu cầu ly hôn không được chấp nhận.
3. Về tài sản, công nợ: Anh Kh, chị Th không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
4. Về án phí dân sự: Anh Nguyễn Công Kh phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (Xác nhận anh Nguyễn Công Kh đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại biên lai số 0000497 ngày 29/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh).
Đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSNDTP Bắc Ninh; - Chi cục THADS TP Bắc Ninh; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thư |