- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Cao Thị Yến N với bị đơn Danh Q"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cao Thị Yến N. Cho chị Cao Thị Yến N được ly hôn với anh Danh Q.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28/03/2024 “V/v tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tú Anh
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lại Thiện Phong
2/ Ông Danh On
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhã Trúc - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Danh Đạt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 03 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 262/2023/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Cao Thị Yến N, sinh năm 1997
Đăng ký thường trú: Ấp X, xã A, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.Chổ ở hiện nay: Khóm 1, phường T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu
Bị đơn: Anh Danh Q, sinh năm 1996
Địa chỉ: Ấp X, xã A, huyện H, tỉnh Bạc Liêu
(Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin vắng, bị đơn vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Cao Thị Yến N trình bày:
- Về hôn nhân: Chị N và anh Danh Q được hai bên gia đình tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện vào năm 2018 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 25/03/2019. Sau khi đám cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẩn. Cụ thể, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hay xảy ra cãi nhau, anh Q thường hay có hành vi bạo lực gia đình đối với chị N. Và vợ chồng đã ly thân với nhau khoảng 03 năm nay (ly thân từ khoảng giữa năm 2020 đến nay).Từ khi ly thân đến nay chị N và anh Q không có tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, cả hai không có liên lạc với nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nay chị N nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị N xin được ly hôn với anh Danh Q.
- Về con chung: Chị N xác định, quá trình chung sống vợ chồng có một người con chung là cháu Danh Chấn P, sinh ngày 21/01/2019. Hiện tại cháu P đang sống cùng với chị N. Khi ly hôn chị N xin được quyền tiếp tục nuôi cháu P và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị N không có yêu cầu gì khác.
Đối với bị đơn anh Danh Q: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có xuống địa phương để tống đạt các văn bản tố tụng cũng như làm việc với anh Danh Q tuy nhiên anh Q không có mặt tại địa phương. Qua xác minh chính quyền địa phương thì được biết anh Danh Q hiện tại không có mặt tại địa phương nhưng anh Q vẫn còn đăng ký thường trú tại ấp X, xã A, huyện H, tỉnh Bạc Liêu và anh Q vẫn có đi và về địa phương nhưng không biết chính xác khi nào anh Q về. Do đó Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Q đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi con của chị N. Đồng thời Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định để giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn anh Danh Q chưa chấp hành đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: Cho chị Cao Thị Yến N được ly hôn với anh Danh Q.
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Danh Chấn P, sinh ngày 21/01/2019 cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi vợ chồng chị N, anh Q ly hôn. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở; Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không yêu cầu.
Về tài sản: Chị N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết;
Về án phí: Chị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn chị Cao Thị Yến N khởi kiện xin ly hôn, nuôi con với bị đơn anh Danh Q. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình đồng thời bị đơn có nơi cư trú tại ấp X, xã A, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Cao Thị Yến N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin vắng mặt; Bị đơn anh Danh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị N và anh Q căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự là phù hợp.
- Về nội dung vụ án:
Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Cao Thị Yến N và anh Danh Q, thấy rằng: Chị N và anh Q có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 25/03/2019 nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Chị N trình bày sau khi đám cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẩn, vợ chồng thường hay xảy ra cãi nhau, anh Q thường hay có hành vi bạo lực gia đình đối với chị N và vợ chồng đã ly thân với nhau khoảng 03 năm nay (ly thân từ khoảng giữa năm 2020 đến nay). Từ khi ly thân đến nay chị N và anh Q cũng không có tìm cách hàn gắn tình cảm vợ chồng, cả hai không có liên lạc với nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng.
Quá trình giải quyết vụ án mặc dù Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Q, tuy nhiên qua xác minh đối với ông Đinh Văn Lân là trưởng ấp X, xã A, huyện H, tỉnh Bạc Liêu tại biên bản xác minh ngày 30/01/2024 thì Tòa án được ông Lân cho biết giữa chị N và anh Q khi còn sống chung tại địa phương ông Lân không biết xảy ra mâu thuẩn cụ thể như thế nào, ông Lân chỉ biết chị N và anh Q đã không còn chung sống với nhau nhiều năm nay. Từ đó cho thấy cuộc sống hôn nhân giữa chị N và anh Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cao Thị Yến N, cho chị N được ly hôn với anh Danh Q.
Về con chung: Chị N xác định quá trình chung sống vợ chồng có một người con chung là cháu Danh Chấn P, sinh ngày 21/01/2019. Hiện tại cháu P đang sống cùng với chị N. Khi ly hôn chị N xin được quyền tiếp tục nuôi cháu P và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Toà án không ghi nhận được ý kiến của anh Q, tuy nhiên qua xác minh ông Đinh Văn Lân là trưởng ấp X, xã A, huyện H, tỉnh Bạc Liêu thì Tòa án được ông Lân cho biết vợ chồng chị N, anh Q có với nhau một người con chung là bé trai khoảng 03 tuổi nhưng ông không rõ họ tên và năm sinh, hiện tại người con này đang sống cùng với chị N. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù quá trình giải quyết vụ án Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh Q, tuy nhiên qua xác minh chính quyền địa phương thì được biết từ khi vợ chồng chị N, anh Q ly thân đến nay cháu Danh Chấn P sống cùng với chị N do đó cần tiếp tục giao cháu P cho chị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục khi vợ chồng chị N, anh Q ly hôn là phù hợp.
Anh Q có quyền, nghĩa vụ tới lui thăm nom con chung không ai được quyền cản trở và anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị N không yêu cầu.
Về tài sản: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Buộc chị Cao Thị Yến N phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm số tiền là 300.000 đồng. Anh Danh Q không phải chịu án phí.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Cao Thị Yến N. Cho chị Cao Thị Yến N được ly hôn với anh Danh Q.
2. Về con chung:
Tiếp tục giao cháu Danh Chấn P, sinh ngày 21/01/2019 cho chị Cao Thị Yến N trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục khi vợ chồng chị N, anh Q ly hôn.
Anh Danh Q không phải cấp dưỡng nuôi cháu Danh Chấn P, sinh ngày 21/01/2019 do chị N không yêu cầu.
Anh Danh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở.
3. Về quan hệ tài sản: Chị Cao Thị Yến N không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Buộc chị Cao Thị Yến N phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch số tiền là 300.000 đồng. Chị N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng tại biên lai thu số 0007289 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công khai. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu (1b); - VKSND huyện H (2b); - CC.THADS huyện H (1b); - UBND xã A (1b); - Các đương sự (2b); - Lưu hồ sơ vụ án, lưu Tòa (2b). | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Tú Anh |