vanban.org

Bản án 21/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Tấn T, cho anh T được ly hôn với chị Trương Ngọc H.

Về con chung: Giao cháu Ngô Tấn Tuấn sinh ngày 15/4/2011 đang sống cùng anh T được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi; Giao cháu Ngô Thị Ngọc Trân sinh ngày 28/4/2014 cho chị H được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi; Anh T, chị H không phải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Tấn T - Trương Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Tấn T, cho anh T được ly hôn với chị Trương Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 26 - 01 - 2024
V/v Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nhớ

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Nguyễn Đông Hồ

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 26 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 539/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc“Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 125/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Ngô Tấn T, sinh năm 1985 (Xin vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C .

- Bị đơn: Chị Trương Ngọc H, sinh năm 1990 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp K, xã Đ, huyện C, tỉnh C ..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 03/10/2023, nguyên đơn là anh Ngô Tấn T trình bày:

- Về hôn nhân: Anh và chị Trương Ngọc H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau vào ngày 23/5/2017. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, anh và chị H đã sống ly thân. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này vì không còn hạnh phúc nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trương Ngọc H.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh T và chị H có với nhau 02 người con chung gồm: Ngô Tấn Tuấn sinh ngày 15/4/2011 đang sống cùng anh T và Ngô Thị Ngọc Trân sinh ngày 28/4/2014 hiện đang sống cùng chị H. Sau khi ly hôn, anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Tuấn, anh đồng ý giao cháu Trân cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và anh, chị H không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Ngô Tấn T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt anh trong các phiên tòa xét xử do điều kiện khó khăn, phải đi làm ăn xa không thể sắp xếp thời gian tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án.

* Bị đơn là chị Trương Ngọc H được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Tấn T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Tranh chấp giữa anh Ngô Tấn T và chị Trương Ngọc H là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc“Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; Chị Trương Ngọc H có địa chỉ cư trú ấp Kinh Lớn, xã Đông Thới, huyện Cái Nước, do đó Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án chị Trương Ngọc H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn là anh Ngô Tấn T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.

Về hôn nhân: Anh Ngô Tấn T và chị Trương Ngọc H tự nguyện kết hôn vào ngày và 23/5/2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Duyệt, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị anh T và chị H đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của Luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Theo anh T trình bày, thời gian đầu kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian sau vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn, anh và chị H đã sống ly thân. Nay xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, không thể tiếp tục duy trì cuộc hôn nhân này vì không còn hạnh phúc nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trương Ngọc H.

Đối với chị H, Tòa án đã triệu tập hợp lệ tham gia tố tụng nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp tài liệu, chứng cứ hay ý kiến đối với nội dung yêu cầu khởi kiện của anh T. Như vậy, tình trạng hôn nhân của anh T và chị H đã thực sự trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không còn đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh T, cho anh T được ly hôn với chị H.

Về con chung: Quá trình chung sống anh T và chị H có với nhau 02 người con chung gồm: Ngô Tấn Tuấn sinh ngày 15/4/2011 đang sống cùng anh T và Ngô Thị Ngọc Trân sinh ngày 28/4/2014 hiện đang sống cùng chị H. Sau khi ly hôn, anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Tuấn, anh T đồng ý giao cháu Trân cho chị H được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc; Anh T, chị H không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử thấy rằng, theo quy định của pháp luật thì:“Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên…”; “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con…” và theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình có quy định như sau:“... con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Hiện tại, cháu Ngô Tấn Tuấn sinh ngày 15/4/2011 đã gần hơn 12 tuổi và cháu Ngô Thị Ngọc Trân sinh ngày 28/4/2014 đã hơn 09 tuổi. Căn cứ vào biên bản ghi nhận ý kiến ngày 25/10/2023, sau khi anh T và chị H ly hôn thì cháu Tuấn có nguyện vọng sống cùng cha là anh Ngô Tấn T và cháu Trân có nguyện vọng sống cùng mẹ là chị Trương Ngọc H. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào lời trình bày của anh T và nguyện vọng của hai cháu Tuấn và Trân nên cần giao cháu Tuấn cho anh T và giao cháu Trân cho chị H được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung, nợ riêng:

Về tài sản chung: Anh T xác định anh và chị H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung, nợ riêng: Anh T xác định anh và chị H không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Ngô Tấn T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Tấn T, cho anh T được ly hôn với chị Trương Ngọc H.

2. Về con chung: Giao cháu Ngô Tấn Tuấn sinh ngày 15/4/2011 đang sống cùng anh T được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi; Giao cháu Ngô Thị Ngọc Trân sinh ngày 28/4/2014 cho chị H được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ 18 tuổi; Anh T, chị H không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung, nợ riêng: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Ngô Tấn T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 03 tháng 10 năm 2023 anh T có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0009541 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Anh T, chị H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ