- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng S "Tranh chấp hợp đồng vay" Nguyễn Huỳnh N"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Buộc bà Nguyễn Huỳnh N trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ gốc là 12.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/DS-ST Ngày 22-3-2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tố Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Nghiêm.
2. Bà Mai Thị Kim Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh L tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 340/2023/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST- DS ngày 06 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Sài Gòn T.
Địa chỉ trụ sở: Lầu 8 số B - B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Ngọc L.
Địa chỉ: số A H, Phường B, thành phố T, tỉnh L.
(Theo Giấy ủy quyền số 40/2023/GUQ-CNLA ngày 08/8/2023).
Bị đơn: Bà Nguyễn Huỳnh N, sinh năm 1989.
Địa chỉ: số B Quốc lộ A, khu phố T, Phường E, thành phố T, tỉnh L.
(Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 8 năm 2023 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S do ông Huỳnh Ngọc L đại diện theo ủy quyền trình bày:
Năm 2015, bà Nguyễn Huỳnh N có ký với Ngân hàng TMCP S hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng vài Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Nguyễn Huỳnh N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng như sau: Hạn mức sử dụng là: 10.000.000 đồng; Mục đích: Tiêu dùng cá nhân; Lãi suất thẻ: 2,6%/tháng; Phương thức thanh toán: Chủ thẻ sẽ chịu trách nhiệm thanh toán tổng số tiền đến hạn và/hoặc trước ngày đến hạn như được nêu trong thông báo hàng tháng gửi cho chủ thẻ. Tuy nhiên, chủ thẻ sẽ có quyền chọn lựa thanh toán tổng số tiền đến hạn, số tiền tối thiểu hoặc một khoản tiền trong khoảng giữa của tổng số tiền đến hạn và số tiền tối thiểu để thanh toán cho đơn vị phát hành thẻ.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Nguyễn Huỳnh N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 31.525.400 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Nguyễn Huỳnh N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 40.559.988 đồng. Thứ tự ưu tiên thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Nguyễn Huỳnh N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Nguyễn Huỳnh N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 19 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 22/3/2024, bà Nguyễn Huỳnh N còn nợ các khoản sau:
Dư nợ: 12.175.363 đồng
Lãi vay: 9.971.640 đồng.
Tổng cộng: 22.147.003 đồng. (Bằng chữ: Hai mươi hai triệu, một trăm bốn mươi bảy nghìn, không trăm lẻ ba đồng).
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc bà Nguyễn Huỳnh N, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn. Đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để bà Nguyễn Huỳnh N trả nợ. Tuy nhiên, bà Nguyễn Huỳnh N vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Nguyễn Huỳnh N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 22/3/2024 là 22.147.003 đồng (Bằng chữ: Hai mươi hai triệu, một trăm bốn mươi bảy nghìn, không trăm lẻ ba đồng), trong đó: Nợ gốc là 12.175.363 đồng; Nợ lãi là 9.971.640 đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 23/3/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S do ông Huỳnh Ngọc L đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xác định Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn bà Nguyễn Huỳnh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà N vắng mặt không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của các đương sự, việc xác định thẩm quyền, tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ của Tòa án từ khi thụ lý và trong quá trình xét xử tại phiên tòa đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Về nội dung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ có cơ sở xác định bà Nguyễn Huỳnh N có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Nguyễn Huỳnh N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 31.525.400 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Nguyễn Huỳnh N đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 40.559.988 đồng và không tiếp tục thanh toán theo kỳ hạn đã thỏa thuận, đã để nợ quá hạn, tính đến ngày 22/3/2024 bà N còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền gốc và lãi là 22.147.003 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bị đơn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh kể từ ngày 23/3/2024 cho đến khi trả hết nợ, phải chịu án phí theo qui định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP S khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bà Nguyễn Huỳnh N làm phát sinh tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Nguyễn Huỳnh N là bị đơn có địa chỉ cư trú tại thành phố T, tỉnh L nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh L.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Huỳnh N vắng mặt. Tuy nhiên, bà N đã được Tòa án thực hiện việc niêm yết, tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập bà N đến các phiên tòa sơ thẩm nhưng bà N không chấp hành nên Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà N là đúng theo quy định tại Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngân hàng TMCP S do ông Huỳnh Ngọc L đại diện theo ủy quyền có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xác định vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử đã xét xử vắng mặt tất cả các được sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về nghĩa vụ trả nợ: Bà Nguyễn Huỳnh N đã ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Quá trình sử dụng thẻ, bà N còn nợ lại số tiền gốc là 12.175.363 đồng. Nhiều lần Ngân hàng đã nhắc nhở, tạo điều kiện cho bà N trả nợ nhưng bà N vẫn cố tình né tránh, cho thấy rõ ràng bà N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo qui định tại Điều 466 Bộ luật dân sự. Bà N đã được tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho thấy bà N đã biết được Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện tại Tòa án nhưng vẫn không đến tham gia phiên tòa. Do đó yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S là có cơ sở chấp nhận.
Về tính lãi: Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Nguyễn Huỳnh N trả lãi tính đến ngày 22/3/2024 là 9.971.640 đồng. Do bà Nguyễn Huỳnh N đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ sang nợ quá hạn và tính lãi theo mức lãi suất đã được qui định trong hợp đồng tín dụng, đồng thời phù hợp với qui định khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó, mức tính lãi của Ngân hàng là hoàn toàn có căn cứ nên cần chấp nhận yêu cầu về tính lãi của Ngân hàng.
Về phương thức thanh toán: Ngân hàng TMCP S yêu cầu bà Nguyễn Huỳnh N trả số tiền nợ gốc là 12.175.363 đồng và lãi tính đến ngày 22/3/2024 là 22.147.003 đồng. (Bằng chữ: Hai mươi hai triệu, một trăm bốn mươi bảy nghìn, không trăm lẻ ba đồng), yêu cầu trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bà N không có ý kiến thể hiện nên cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S về phương thức thánh toán.
Về ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ.
Về án phí dân sự: Bà Nguyễn Huỳnh N phải chịu 1.107.350 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn lại toàn bộ tạm ứng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Áp dụng Điều 463; Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Buộc bà Nguyễn Huỳnh N trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền nợ gốc là 12.175.363 đồng và lãi tính đến ngày 22/3/2024 là 9.971.640 đồng. Tổng cộng là 22.147.003 đồng (Hai mươi hai triệu, một trăm bốn mươi bảy nghìn, không trăm lẻ ba đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, người phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng với Ngân hàng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Về án phí: Bà Nguyễn Huỳnh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.107.350 đồng (Một triệu, một trăm lẻ bảy nghìn, ba trăm năm mươi đồng). H lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 460.686 đồng (Bốn trăm sáu mươi nghìn, sáu trăm tám mươi sáu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002792 ngày 23/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh L. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L; - VKSND TPTA; - Chi cục THADS TPTA; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Tố Loan |