vanban.org

Bản án 21/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/01/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:

Buộc ông Lê Hà N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 49.876.390 đồng (bốn mươi chín triệu tám trăm bảy mươi sáu ngàn ba trăm chín mươi) đồng. Trong đó: nợ gốc: 29.667.282 (hai mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi bảy ngàn hai trăm tám mươi hai) đồng; nợ lãi quá hạn: 20.209.108… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng S - Lê Hà N"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/DS-ST
Ngày: 16-01-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Lê Diễm Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh Hồng Hải

2/ Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên t a: Bà Vũ Thị Thu Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đ i di n Vi n ki m s t nh n d n u n T n nh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên t a: Bà Đỗ Thị Chung Thủy – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 368/TLST-DS ngày 11/10/2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 728/2023/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần S; Trụ sở:, phường S, Quận c, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn: Ông Nguyễn Ngọc Mđịa chỉ liên hệ: phường Võ Thị S, Quận c, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy ủy quyền số 4220/2023/UQ-TGĐ ngày 05/12/2023)

(Ông M có mặt)

Bị đơn: Ông Lê Hà N, sinh năm 1983

Địa chỉ: Phường X, quận y, Thành phố Hồ Chí Minh (Ông Lê Hà N vắng mặt)

N DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được, đại diện nguyên đơn trình bày:

Ngày 10/4/2021, ông Lê Hà N (sau đây gọi là Bị đơn) có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi là Nguyên đơn/Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này gọi chung là hợp đồng). Căn cứ thu nhập của Bị đơn Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ, Bị đơn đã thực hiện các giao dịch với số tiền là 22.500.000 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến nay, Bị đơn đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 6.649.876 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng Bị đơn vẫn không có thiện chí trả nợ, vi phạm nghĩa vụ tại Điều 18 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 11/8/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Tính đến ngày 05/12/2023, Bị đơn còn nợ Ngân hàng tổng cộng: 48.256.576 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 29.667.282 đồng; nợ lãi quá hạn: 18.589.294 đồng. Ngân hàng yêu cầu bị đơn phải trả ngay một lần toàn bộ số tiền nợ trên. Ngoài ra, còn phải chịu các khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 06/12/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại các hợp đồng.

Bị đơn, ông Lê Hà N đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để cung cấp lời khai, thông báo và giấy triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Bị đơn phải trả ngay cho Nguyên đơn số tiền tạm tính đến ngày 16/01/2024 như sau: Dư nợ gốc: 29.667.282 đồng; lãi quá hạn: 20.209.108 đồng, tổng cộng: 49.876.390 đồng. Ngoài ra, ông Lê Hà N có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 17/01/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

- Về nội dung: Do ông Lê Hà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu Hội đồng xét xử buộc ông Lê Hà N phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 16/01/2024 là 49.876.390 đồng và lãi phát sinh từ ngày 17/01/2024 cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất thỏa thuận tại trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng là có căn cứ. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn vắng mặt không có lý do là từ chối quyền phản bác đối với yêu cầu của Nguyên đơn nên căn cứ vào tài liệu phía Nguyên đơn cung cấp là tài liệu không cần phải chứng minh giải quyết vụ án là có căn cứ. Căn cứ khoản 2 Điều 91, 95 và điểm d khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về áp dụng pháp luật tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bị đơn là ông Lê Hà N; Tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/4/2021 thể hiện Bị đơn có địa chỉ cư trú tại Phường X, quận Y Thành phố Hồ Chí Minh. Tại kết quả xác minh của Công an phường T, thị xã L tỉnh B thì đương sự có đăng ký thường trú tại địa phương nhưng hiện đang tạm trú ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không rõ địa chỉ. Kết quả xác minh của Công an Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện ông Lê Hà N có đăng ký tạm trú tại Phường X, quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 09/5/2019, tuy nhiên hiện nay không còn thực tế cư trú tại địa chỉ trên, đi đâu không rõ. Như vậy, theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về áp dụng pháp luật N dung:

Xét yêu cầu của Ngân hàng yêu cầu ông Lê Hà N thanh toán số tiền nợ tổng cộng là: 49.876.390 đồng và lãi phát sinh từ ngày 17/01/2024 cho đến khi trả dứt nợ theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng:

Căn cứ theo Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 10/4/2021, bản các điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín), xác nhận của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì có đủ cơ sở xác định Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín có cấp thẻ tín dụng cho Bị đơn với hạn mức tín dụng 25.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, Bị đơn đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 22.500.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ, chỉ thanh toán cho Nguyên đơn số tiền 6.649.876 đồng. Từ ngày 10/6/2022 Bị đơn không thanh toán cho Nguyên đơn khoản tiền còn nợ nên ngày 11/8/2022 Nguyên đơn đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Đối chiếu lời khai của Nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xét thấy Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký kết với Nguyên đơn. Tính đến ngày 16/01/2024, Bị đơn còn nợ Nguyên đơn số tiền như sau: Dư nợ gốc: 29.667.282 đồng; lãi quá hạn: 20.209.108 đồng, tổng cộng: 49.876.390 đồng. Do đó, Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn trả ngay một lần toàn bộ số tiền trên và tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 17/01/2024 cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng là phù hợp với quy định tại các Điều 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và các Điều 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận.

Phương thức và thời hạn thanh toán: Do Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong thời gian dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Nguyên đơn, nên Nguyên đơn yêu cầu Bị đơn phải có nghĩa vụ trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.493.820 đồng.

Hoàn lại cho Nguyên đơn toàn bộ tiền tạm ứng án phí đã nộp 865.075 đồng.

Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 271, 273 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Căn cứ các Điều 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1/ Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S:

Buộc ông Lê Hà N có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền 49.876.390 đồng (bốn mươi chín triệu tám trăm bảy mươi sáu ngàn ba trăm chín mươi) đồng. Trong đó: nợ gốc: 29.667.282 (hai mươi chín triệu sáu trăm sáu mươi bảy ngàn hai trăm tám mươi hai) đồng; nợ lãi quá hạn: 20.209.108 (hai mươi triệu hai trăm lẻ chín ngàn một trăm lẻ tám) đồng.

Ngoài ra, kể từ ngày 17/01/2024 ông Lê Hà N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 10/4/2021, bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Thời hạn và phương thức trả: Trả một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lê Hà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.493.820 đồng (hai triệu bốn trăm chín mươi ba ngàn tám trăm hai mươi) đồng.

Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S tiền tạm ứng án phí đã nộp là 865.075 (tám trăm sáu mươi lăm ngàn không trăm bảy mươi lăm) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008704 ngày 07/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

4/Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Nơi nh n:

Cỡ chữ