- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
- Tòa quyết gì? 39; khoản 1 Điều 91; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Điều 161,Điều 185; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2024/DS-ST Ngày: 28 - 6 - 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Lan
Bà Nguyễn Thị Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống
Nhất
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2023/TLST-DS ngày 17/02/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-DS ngày 27 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 285/ 2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Đức B, sinh năm 1978
Địa chỉ: Số 392, tổ 9, ấp N, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Đoàn B, sinh năm 1971 và bà Lê Thị Thanh T, sinh năm
1972
Cùng địa chỉ: Số 79/2, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Ông B, ông B và bà T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 31/01/2023 và lời khai có tại hồ sơ nguyên
đơn ông Lê Đức B trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên vào ngày 19/8/2019 ông Đoàn B và bà Lê
Thị Thanh T đã liên hệ với ông B vay số tiền là 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng) và được ông B đồng ý. Mục đích vay số tiền trên để ông B, bà T làm ăn. Khi vay tiền ông B có viết 01 tờ giấy với nội dung mượn tiền của ông B và cam kết trong thời hạn ba tháng tính từ ngày vay ngày 19/8/2019 thì ông B, bà T sẽ thanh toán số tiền trên cho ông B. Về lãi suất hai bên thỏa thuận miệng là 2%/tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng vay tài sản thì ông B, bà T mới thanh toán trả cho ông B số tiền lãi là 14.400.000đ (mười bốn triệu bốn trăm ngàn đồng) và không thanh toán được tiền gốc.
Khi vay tiền ông B, bà T không thế chấp tài sản gì cho ông B. Toàn bộ chữ ký
và chữ viết trong giấy vay tiền đề ngày 19/8/2019 đều là chữ viết và chữ ký của ông Đoàn B. Tại thời điểm vay tiền thì bà Lê Thị Thanh T là vợ ông B cùng có mặt nhưng do bà T không biết chữ nên không ký vào tờ giấy mượn tiền trên.
Đến thời hạn thanh toán ông B đã nhiều lần yêu cầu ông B, bà T thanh toán số
tiền vay trên nhưng ông B, bà T không thanh toán.
Nay ông B yêu cầu bà Lê Thị Thanh T và ông Đoàn B có nghĩa vụ liên đới
thanh toán trả cho ông B số tiền nợ là 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng). Ông B không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.
Ngoài ra ông B không có yêu cầu gì khác.
* Bị đơn ông Đoàn B và bà Lê Thị Thanh T đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp
lệ các văn bản tố tụng nhƣng không hợp tác đến Tòa án làm việc:
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tại phiên
tòa: Về thẩm quyền giải quyết, Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất giải quyết là đúng thẩm quyền; Về xác định tư cách tố tụng là đúng; Thời hạn giải quyết đúng quy định; Hồ sơ gửi Viện kiểm sát đúng quy định; Thủ tục tống đạt cho đương sự đúng quy định; Xác minh thu thập tài liệu chứng cứ đúng quy định.
Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Đoàn B và bà Lê Thị Thanh T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Lê
Đức B số tiền nợ là 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng).
Về án phí: Ông Đoàn B và bà Lê Thị Thanh T phải chịu án phí theo quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên
tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Đoàn B và bà
Lê Thị Thanh T thanh toán số tiền nợ nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà ông Đoàn B và bà Lê Thị
Thanh T cư trú tại số 79/2, khu phố T, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào các 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn,
bị đơn đều vắng mặt, nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy, căn cứ các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
Về đánh giá chứng cứ: Nguyên đơn ông Lê Đức B đã nộp tài liệu, chứng
cứ kèm theo đơn khởi kiện là bản chính tờ giấy đề ngày 19/8/2019 có nội dung “Tôi tên Đoàn B, ngụ 79, tổ 2, ấp N, xã B, huyện T có mượn của Lê Đức B ngụ Ngô Quyền….với số tiền là 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng)..”.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đoàn B và bà Lê Thị Thanh T không
hợp tác đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến đối với giấy vay tiền đề ngày 19/8/2019 do ông Lê Đức B cung cấp. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông Đoàn B tại “giấy vay tiền” ngày 19/8/2019 và các mẫu tài liệu cần so sánh. Tại kết quả giám định số 2091/KL-KTHS ngày 31/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đồng Nai đã kết luận “…chữ ký và chữ viết mang tên Đoàn B trên tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký và chữ viết mang tên Đoàn B trên các tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) do cùng một người ký, viết ra..”. Như vậy, nguyên đơn ông Lê Đức B đã cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện nguyên đơn ông Lê Đức B: Qua các tài liệu,
chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, ông Đoàn B và bà Lê Thị Thanh T vay tiền của ông Đoàn B với số tiền là 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng), hai bên không thỏa thuận lãi suất. Về thời hạn vay, theo “Giấy mượn tiền” đề ngày 19/8/2019 thì thỏa thuận thời hạn vay là 03 tháng và sau 03 tháng nếu chưa hoàn vốn thì bên mượn phải đóng tiền lãi. Đến thời hạn thanh toán ông B đã yêu cầu bà T và ông B thanh toán số tiền nợ nhưng ông B, bà T không thanh toán số tiền nợ nên ông B đã khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn
bản tố tụng cho bị đơn ông Đoàn B và bà Lê Thị Thanh T nhưng ông B, bà T không hợp tác đến Tòa án làm việc cũng không làm văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn cho thấy bị đơn cố tình né tránh, không có thiện chí trả nợ cho nguyên đơn.
Từ những lập luận trên có đủ cơ sở để xác định việc vay tiền giữa các bên là
có thực và yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Xét yêu cầu của ông Lê Đức B yêu cầu ông Đoàn B và bà Lê Thị Thanh T có nghĩa vụ liên đới thanh toán số tiền nợ cho ông B là 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng) là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt
ra xem xét.
Về chi phí tố tụng và án phí: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được
chấp nhận nên bị đơn ông Đoàn B và bà Lê Thị Thanh T phải chịu chi phí tố tụng (chi phí giám định chữ ký, chữ viết là 5.000.000đ) và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn.
Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Xét đề nghị của đại diện Viện
kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về đường lối giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về quyền kháng cáo, kháng nghị đối với bản án: Các bên đương sự được
quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 1 Điều 91; khoản 3 Điều 144; Điều 147; Điều 161,Điều 185; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 238; Điều 266; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 357; Điều 463; Điều 466 và khoản 1 Điều 470 Bộ luật Dân
sự năm 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Đức B về
việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn ông Đoàn B và bà Lê Thị Thanh T.
Buộc ông Đoàn B và bà Lê Thị Thanh T có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả
cho ông Lê Đức B số tiền nợ là 120.000.000đ (một trăm hai mươi triệu đồng). Ông B không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong,
bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền phải xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không thỏa thuận được thì thực hiện theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về chi phí tố tụng và án phí:
Về chi phí tố tụng: Ông Đoàn B và bà Lê Thị Thanh T có nghĩa vụ thanh toán
trả cho ông Lê Đức B số tiền là 5.000.000đ (năm triệu đồng) chi phí giám định chữ ký, chữ viết.
Về án phí:
- Ông Đoàn B và bà Lê Thị Thanh T phải nộp 6.000.000đ (sáu triệu đồng)
án phí.
- Hoàn trả cho ông Lê Đức B số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.000.000đ
(ba triệu đồng) tại biên lai thu số 0009226 ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thống Nhất tỉnh Đồng Nai.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo, kháng nghị đối với bản án: Nguyên đơn và bị đơn,
được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND H.Thống Nhất; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND tỉnh Đồng Nai; - THADS H. Thống Nhất; - Các đương sự; - Lưu HS; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Ngọc Thành |