vanban.org

Bản án 21/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 17/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đặng Đức H.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đàm Văn S. Tuyên bố: bị cáo Đặng Đức H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Đặng Đức H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Bị cáo Đàm Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". - phạm tội mua bán t…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đặng Đức H.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HSST
Ngày: 17/02/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hanh

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Phương

2. Ông Lã Văn Luật

Thư ký phiên tòa: Ông Lục Đức Long - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2023/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Đặng Đức H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 17/3/1959 tại thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: tổ 17, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 07/10; Con ông: Đặng Đức H (Đã chết); Con bà: Nông Thị M (đã chết); Anh, chị, em ruột: Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Nguyễn Kim H - sinh năm 1963 (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 1985; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 26/9/2022 đến nay; Có mặt.

2. Họ và tên: Đàm Văn S; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13/7/1994 tại huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm Khào, xã P, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Đàm Văn T - sinh năm 1962; Con bà: Hoàng Thị R - sinh năm 1961 (cùng trú tại: xóm Khào, xã P, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng); Anh, chị, em ruột: Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ, con: Không có; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Cao Bằng từ ngày 26/9/2022 đến nay; Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngô Thị Huệ C

Trú tại: tổ 11, phường H, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Vắng mặt có lí do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 26/9/2022 Đàm Văn S điều khiển xe mô tô 11Z1 - 8196 đến khu vực tổ 14, phường T, thành phố Cao Bằng để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, S gặp và hỏi Đặng Đức H có mua được Heroine không, mua được sẽ chia cho 01 phần. H đồng ý, S đưa cho H 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), H nhận tiền và điều khiển xe mô tô11Z1-8196 đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng (tổ 13, phường T, thành phố Cao Bằng) mua 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) Heroine với một người đàn ông (không biết họ tên, địa chỉ). Người đàn ông nhận tiền và đưa lại cho H 02 (hai) gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa Heroine. H cầm 02 (hai) gói Heroine vừa mua được đi đến khu vực bờ kè phía sau Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng rồi lấy 01 (một) gói giấy bạc có Heroine trích ra một phần, gói vào 01 (một) mẩu giấy tờ lịch (H nhặt ở dưới đất) rồi cất vào túi quần đằng trước bên phải để sử dụng cho bản thân. Sau đó H điều khiển xe mô tô quay lại vị trí S đang chờ, đưa cho S 02 (hai) gói Heroine nhưng không nói cho S biết việc H đã tự ý trích một phần Heroine ra cất riêng cho bản thân. Khi S nhận 02 (hai) gói Heroine và cho vào trong túi quần đằng sau bên trái thì vào hồi 14 giờ 30 phút bị Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng phối H với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố Cao Bằng bắt quả tang Đặng Đức H và Đàm Văn S có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy tại tổ 14, phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Vật chứng thu giữ:

+ 01 (một) gói nhỏ được gói bằng giấy tờ lịch bên trong có chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (H khai nhận là Heroine) có khối lượng 0,06g (không phẩy không sáu gam) được thu giữ tại túi quần đằng trước bên phải chiếc quần Đặng Đức H đang mặc.

+ 02 (hai) gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (S khai nhận là Heroine) có khối lượng 0,16g (không phẩy mười sáu gam) được thu giữ tại túi quần sau bên trái chiếc quần Đàm Văn S đang mặc.

+ 01 (một) xe mô tô màu xanh nhãn hiệu HONDA CLICK biển kiểm soát 11Z1 - 8196.

Ngày 26/9/2022, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng ra Quyết định trưng cầu giám định số 246 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 294/KL-KTHS ngày 04/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: 02 (hai) Mẫu chất bột màu trắng bên trong 02 (hai) phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy. Loại: Heroine.

Hành vi trên đây của Đặng Đức H và Đàm Văn S đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố. Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSTP ngày 10/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo Đặng Đức H về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và bị cáo Đàm Văn S về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù H với biên bản bắt người phạm tội quả tang và lời khai tại cơ quan điều tra. Các bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ và nội dung bản Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị Huệ C có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo Đặng Đức H và Đàm Văn S. Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo S. Tuyên bố bị cáo Đặng Đức H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Đàm Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Đức H từ 24 đến 27 tháng tù; bị cáo Đàm Văn S từ 12 đến 15 tháng tù. Hình phạt bổ sung: không đề nghị áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 294/KTHS hoàn mẫu sau giám định vụ Đàm Văn S.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Tại phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo H có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm trở về với gia đình. Bị cáo S không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 26/9/2022 tại tổ 14, phường T, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng, Công an phường Tân Giang, thành phố Cao Bằng phối H với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố Cao Bằng bắt quả tang Đặng Đức H có hành vi mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ 0,06g (không phẩy không sáu gam) Heroine; Đàm Văn S có hành vi tàng trữ trái phép 0,16g (không phẩy mười sáu gam) Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và gây ra tâm lý hoang mang lo ngại trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo H thực hiện hành vi mua 01 (lần) 02 gói ma túy khối lượng 0,22g cho S và được hưởng lợi bằng việc tự trích ra 01 phần ma túy khối lượng 0,06g để tàng trữ sử dụng cho bản thân. Do vậy, bị cáo Đặng Đức H phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi mua bán trái phép 0,22g (không phẩy hai mươi hai gam) Heroine. Hành vi của bị cáo Đặng Đức H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đàm Văn S thực hiện hành vi tàng trữ 02 gói Heroine có khối lượng 0,16g nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, do đó phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi tàng trữ trái phép 0,16g (không phẩy mười sáu gam) Heroine. Hành vi của bị cáo Đàm Văn S đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Các bị cáo Đặng Đức H, Đàm Văn S là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự nhưng đều là người nghiện ma túy. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là "Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi các bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có ý thức tự cải tạo bản thân nên cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…” . Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, các bị cáo đều là người nghiện ma túy, không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Đối với 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 242/KTHS hoàn mẫu sau giám định vụ Đàm Văn S. Xét thấy đây là đồ vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA CLICK biển kiểm soát 11Z1-8196 thu giữ của Đàm Văn S. Qua điều tra xác minh, xác định chủ sở hữu chiếc xe mô tô là bà Ngô Thị Huệ C. Bà C giao xe cho Đàm Văn S (là công nhân của bà C) để đi làm công trình tại huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, bà C không biết việc S sử dụng chiếc xe làm phương tiện để thực hiện hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó ngày 15/11/2022 cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngô Thị Huệ C không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về các vấn đề khác: Trong vụ án này về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, H khai mua với 01 (một) người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực tổ 13, phường T, thành phố Cao Bằng, việc trao đổi mua bán ma túy không có ai biết và chứng kiến. Do vậy, cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng: khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đặng Đức H.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Đàm Văn S.

Tuyên bố: bị cáo Đặng Đức H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Bị cáo Đàm Văn S phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Đặng Đức H 25 (hai mươi lăm) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 26/9/2022.

Xử phạt Đàm Văn S 13 (mười ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 26/9/2022.

2. Về xử lý vật chứng và tài sản: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 294/KTHS, QT02 hoàn mẫu sau giám định vụ Đàm Văn S có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng. (Đã có Kết luận giám định ma túy số 294/KL-KTHS ngày 04/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng);

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 40 ngày 12/01/2023.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Các bị cáo Đặng Đức H và Đàm Văn S mỗi người phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt H lệ.

Cỡ chữ