- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Nhật N bị xét xử về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Nhật N phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI ________________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HSST Ngày: 12/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mộng Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Công Danh- Cán bộ hưu trí
Ông Huỳnh Phi Hổ- Cán bộ Liên đoàn lao động thành phố B, tỉnh Đồng Nai
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quang Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Như Nên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 536/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 575/2022/QĐXXST-HS ngày 05/12/2022, Quyết định hoãn phiên Tòa số 648/2022/QĐST-HS ngày 22/12/2022 đối với bị cáo:
1. Võ Nhật N; Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1993; Tại: tỉnh Quảng Trị; Nơi đăng ký HKTT: khu vực 8, xã Tr, huyện Tr, tỉnh Thanh Hóa; Chổ ở hiện nay: ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: nhân viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Văn Th, sinh năm: 1965 và bà Lê Thị L, sinh năm: 1967; Chưa có vợ con.
Tiền án+ tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp “ Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo lệnh số 956/LCĐKNCT ngày 16/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố B.
Bị hại: Ông Huỳnh Ngọc M, sinh năm: 1968( Đã chết)
Đại diện hợp pháp của ông M:
Bà Nguyễn Thị Phấn, sinh năm: 1972; Bà Huỳnh Gia L, sinh năm: 1999
Cùng địa chỉ: 7/1C, khu phố 4, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai
( Bị cáo có mặt, đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 07 giờ 20 phút ngày 06/01/2022, Võ Nhật N có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 (Bút lục số 34) điều khiển xe mô tô biển số 74D1-299.85 (xe do bà Lê Thị L, mẹ của N đứng tên chủ sở hữu, bút lục số 33) có dung tích xi lanh 124,9cm3 lưu thông trên đường H theo hướng từ huyện V đi hướng ngã tư B. Khi N lưu thông đến đoạn đường (gần trạm thu phí) thuộc tổ 32, khu phố 5, phường B, thành phố B. N điều khiển xe mô tô biển số 74D1-299.85 chạy trên phần đường bên phải theo hướng xe N lưu thông và cách vạch sơn phân chia chiều đường khoảng 01 mét. N vừa điều khiển xe vừa quan sát về phía bên trái nhìn 01 chiếc xe ô tô con (không rõ biển số và người điều khiển) chạy song song cùng chiều với xe N. Do N chạy nhanh, không chú ý quan sát phía trước nên khi nhìn về phía trước thấy xe mô tô biển số 60V8-5202 do ông Huỳnh Ngọc M (sinh năm 1968, cư trú tại 7/1C, tổ 22, khu phố 4, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) điều khiển chuyển hướng sang đường đang dừng lại trên phần đường hướng xe N lưu thông. N không làm chủ được tay lái nên đã để phần bánh trước xe mô tô biển số 74D1-299.85 do N điều khiển đụng vào yếm chắn gió và ốp lốc máy xe mô tô biển số 60V8-5202 do ông M điều gây tai nạn. Hậu quả, ông M bị thương nặng dẫn đến tử vong.
*Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông ngày 06/01/2022 của Công an thành phố B đã xác định được vị trí, kích thước, chiều hướng dấu vết như sau (Tất cả các dấu vết, phương tiện được đo vào mép đường bên phải (gọi tắt là lề phải) đường H theo hướng huyện V đi hướng ngã tư B):
- Đoạn đường xảy ra tai nạn thuộc tổ 32, khu phố 5, phường B, thành phố B. Mặt đường trải nhựa bằng phẳng, ở giữa đường có vạch sơn trắng đôi chia mặt đường thành 02 chiều lưu thông. Chiều đường từ ngã tư B đi hướng huyện V mặt đường rộng 07m20; chiều ngược lại mặt đường rộng 05m20.
- (1) là vị trí xe mô tô biển số 60V8-5202: Xe mô tô (1) ngã nghiêng bên trái sau tai nạn. Đầu xe quay hướng vào lề phải, đuôi xe quay hướng lề trái. Trục bánh trước cách lề phải là 01m60, trục bánh sau cách lề phải 02m70 và cách trụ đèn chiếu sáng số 9 làm mốc là 14m80.
- (2) là vị trí xe mô tô biển số 74D1-299.85: Xe mô tô (2) ngã nghiêng bên trái sau tai nạn. Đầu xe quay hướng vào lề trái, đuôi xe quay hướng lề phải. Trục bánh trước cách lề phải là 05m60, trục bánh sau cách lề phải 05m10 và cách trục bánh sau xe (1) là 04m90.
- (3) là vị trí vết máu nạn nhân: Vết máu nạn nhân để lại trên mặt đường, tiết diện mết máu là 15cmx20cm. Tâm vết máu cách lề đường là 01m70 và cách trục bánh trước xe (1) là 01m40.
- (4) Vết cày tróc nhựa đứt quãng trên đường của xe (1), chiều hướng từ huyện V đi về hướng ngã tư B. Đầu vết cày đo đến gác chân xe (1) là 02m70 và cách lề phải 02m60.
- (5) Vết cày tróc nhựa đứt quãng trên đường của xe (2), chiều hướng từ huyện V đi về hướng ngã tư B. Đầu vết cày đo đến gác chân xe (2) là 09m80 và cách lề phải 03m10 và cách đầu vết cày của xe 1 (4) là 03m.
* Tại Kết luận giám định số 808/KL-KTHS ngày 08/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận vị trí dấu vết va chạm, chiều hướng dấu vết, cơ chế hình thành dấu vết giữa các phương tiện xe mô tô biển số 74D1-299.85 với xe mô tô biển số 60V8-5202 trong quá trình xảy ra tai nạn như sau:
- “Hệ thống dấu vết trượt xước, nứt vỡ, biến dạng tại các chi tiết bên phải: vành bánh trước cùng yếm chắn gió của xe mô tô biển số: 74D1-299.85 chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải; hình thành do quá trình va chạm với các chi tiết bên phải: Yếm chắn gió và ốp lốc máy nứt vỡ, dính chất màu đen; khung gác chân trước cùng bàn đạp phanh của xe mô tô biển số: 60V8-5202 khi hai xe va chạm trong trạng thái ngược chiều lưu thông.
- Hệ thống dấu vết trượt xước, mài mòn tại các chi tiết còn lại trên 02 xe mô tô biển số 74D1-299.85 và xe mô tô biển số 60V8-5202 hình thành do quá trình va chạm với mặt đường khi xe ngã”.
*Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 010/TT/2022 ngày 18/02/2022 của Giám định viên Trung tâm pháp y Đồng Nai đã kết luận nguyên nhân tử vong của nạn nhân Huỳnh Ngọc M như sau:
Nguyên nhân chết: Đa chấn thương
- Chấn thương sọ não gây vỡ sọ phức tạp vùng đỉnh thái dương trái, dập thoát tổ chức não ra ngoài.
- Kết hợp chấn thương gây gãy xương hàm gò má trái.
3. Kết luận khác: Nồng độ cồn trong máu: 28,49mg/100ml (Theo Quyết định số 320/QĐ-BYT ngày 23/01/2014 của Bộ Y tế, trị số bình thường <50,23mg/100ml).
* Dữ liệu điện tử thu giữ: 01 dĩa VCD lưu trữ hình ảnh diễn biến vụ tai nạn giao thông ngày 06/01/2022 do chị Nguyễn Thị Hồng H-sinh năm 1997 (kế toán cửa hàng vật liệu xây dựng Đ) trích xuất từ camera giám sát tại trước cửa hàng “Đ” nơi xảy ra tai nạn giao thông và giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B-Lưu kèm hồ sơ vụ án
* Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ phương tiện và đã giao trả cho chủ sở hữu, gồm:
- 01 xe mô tô biển số 74D1-299.85 cho Võ Nhật N (Nam nhận thay cho bà Lê Thị Liên (mẹ của Nam)).
- 01 xe mô tô biển số 60V8-5202 cho chị Huỳnh Gia L (đại diện gia đình bị hại).
* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Võ Nhật N đã bồi thường chi phí mai táng và các yêu cầu dân sự khác cho gia đình bị hại với tổng số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Đại diện hợp pháp của bị hại đã bãi nại và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nam.
Tại cáo trạng số 539/CT-VKS-HS ngày 16/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai đã truy tố Võ Nhật N về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ” theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên Tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt:
Bị cáo Võ Nhật N từ 01 ( Một) năm - 01 ( Một) năm 06 ( Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về pháp luật áp dụng và xác định tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại và chứng cứ có tại hồ sơ. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 07 giờ 20 phút ngày 06/01/2022, tại đoạn đường H (gần trạm thu phí) thuộc tổ 32, khu phố 5, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Võ Nhật N có giấy phép lái xe hợp lệ, có hành vi điều khiển xe mô tô biển số 74D1-299.85 có dung tích xi lanh 124,9cm3 do chạy nhanh không đảm bảo an toàn, không chú ý quan sát phía trước nên khi nhìn thấy xe mô tô biển số 60V8-5202 do ông Huỳnh Ngọc M điều khiển chuyển hướng sang đường đang dừng lại trên phần đường hướng xe Nam lưu thông. N đã không làm chủ tay lái nên đã để phần bánh trước xe mô tô biển số 74D1-299.85 do Nam điều khiển đụng vào yếm chắn gió và ốp lốc máy xe mô tô biển số 60V8-5202 do ông M điều gây tai nạn làm ông M bị thương nặng dẫn đến tử vong.
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 hành vi của bị cáo cấu thành tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đương bộ”.
Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm, nhằm để răng đe giáo dục và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 , khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như : thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải ; sự việc xảy ra đã bồi thường cho gia đình bị hại được đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại và miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự (được quy định tại các điểm s, b khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017). Ngoài ra bị cáo cũng đang có việc làm ổn định, là lao động chính trong gia đình nếu cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thì ít nhiều cũng làm xáo trộn và ảnh hưởng đến gia đình cũng như cuộc sống của bị cáo đồng thời gia đình của bị hại cũng đã làm đơn bãi nại và miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật mà cũng đủ có tác dụng giáo dục và răng đe phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết xong nên không đặt ra xem xét
Về án phí HSST: bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51; Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Tuyên bố bị cáo Võ Nhật N phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ”.
- Xử phạt: Bị cáo Võ Nhật N 01 ( Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo . Thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Võ Nhật N cho Ủy ban nhân dân xã T huyện V tỉnh Đồng Nai giám sát trong thời gian thử thách
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02( hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí HSST: bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - VKSND thành phố B; - Công an thành phố B; - Chi cụcTHADS thành phố B; - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Trần Thị Mộng Hà |