vanban.org

Bản án 21/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 23/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 c a Bộ luật hình sự.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo B i Văn Th phạm Tội tàng trữ trái phép ch t ma túy . Về hình phạt: Xử phạt B i Văn Th 20 (hai mươi) tháng t . Thời hạn ch p hành hình phạt t t nh từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/01/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Thật - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 c a Bộ luật hình sự.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HSST
Ngày: 23/5/2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH HÒA BÌNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đà Giang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ng Trung T nh Bà B i Thị Qu nh

- Thư ký phiên toà: Bà B i Thị Nhi - Thư ký Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Ông B i T t Th ng - Kiểm sát viên

Ngày 23/5/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2023/HSST ngày 06/4/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 11/5/2023 đối với:

Bị cáo Bùi Văn Th(Tên gọi khác: Kh ng có), sinh ngày 20/8/2000 tại K, Hòa Bình; Nơi cư trú: Xóm Th, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học v n): 7/12; Dân tộc: Mường; Giới t nh: Nam; T n giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông B i Văn R, sinh năm 1967 đ chết) và bà B i Thị Ngh, sinh năm 1972; Vợ con: Chưa; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con th tư.

Nhân thân: Không.

Tiền án: Không

Tiền sự: Ngày 30/11/2022 bị Ủy ban nhân dân x C, huyện K, tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh giáo dục tại x , phường, thị tr n theo Quyết định số 276/QĐ-XPTT;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2023 tại Nhà tạm giữ C ng an huyện K đến nay, được tr ch xu t có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Ông Ng Thành V, sinh năm 1984 (vắng mặt tại phiên tòa không lý do)

Nơi cư trú: 02/24 Đ, phường N, thành phố Th, tỉnh Thanh Hóa.

Người chứng kiến: Ông B i Văn C, sinh năm 1982; (vắng mặt tại phiên tòa không lý do)

Trú tại: Xóm Th, x C, huyện K, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

B i Văn Th là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2020, do c n ma túy để sử dụng nên sáng ngày 06/01/2023 Th b t xe khách đi từ khu vực chợ Vài thuộc x H, huyện M, thành phố Hà Nội để mua ma túy về sử dụng. Sau khi xuống xe Th đi bộ đến một cây c u nh thì gặp được một người đàn ng lạ, Th h i: Anh có hàng tr ng kh ng, để cho em một t . Người này trả lời Có, mày l y bao nhiêu , Th kh ng trả lời mà đưa tờ tiền 500.000 (năm trăm nghìn) đồng ra cho người này. Người đàn ng lạ c m tiền rồi l y từ trong túi áo ra một gói gi y màu xanh – đ , ch a Heroin. Khi mang về nhà Th c t gói ma túy này xuống bên dưới góc đệm kê trên giường trong phòng ng c a mình, thỉnh thoảng l y một ph n ra để sử dụng. Sáng ngày 11/01/2023, Th chia một ph n ma túy từ gói ma túy mua ban đ u sang một gói gi y khác màu tr ng – đ để tiện sử dụng. Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 11/01/2023 B i Văn Th đang đi bộ trên tuyến đường C thuộc c ng địa phận Xóm Th, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình thì bị t c ng tác c a Đội cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự – Kinh tế – Ma túy C ng an huyện K phối hợp với C ng an x C b t quả tang đang c m trên bàn tay trái một gói gi y màu tr ng – đ , bên trong ch a ch t dạng cục màu tr ng, Th khai nhận là ma túy Heroin c a Th. T C ng tác đ lập biên bản phạm tội quả tang, sau đó tiến hành khám xét khẩn c p nơi ở c a B i Văn Th, quá trình khám xét đ thu giữ thêm 01 (một) gói ch a ch t bột dạng cục màu tr ng khác, Th c ng khai nhận là ma túy Heroine c a Th c t gi u để sử dụng.

Ngày 13/01/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện K đ ra Quyết định trưng c u giám định yêu c u Phòng kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Hòa Bình giám định mẫu vật ch ng nghi là ch t ma túy thu giữ b t quả tang B i Văn Th.

Tại bản kết luận giám định số: 41/KLĐG-CAT-PC09, ngày 16/01/2023 c a Phòng Kỹ thuật hình sự C ng an tỉnh Hòa Bình kết luận:

Chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu G1 trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Tang vật chất nghi là ma túy thu giữ khi bắt quả tang Bùi Văn Thvào ngày 11/01/2023, tại: Xóm Th, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình” gửi giám định có khối lượng 0,07g (không phẩy không bảy gam), là ma túy, loại Heroine.

Chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu G2 trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Tang vật: chất nghi là ma túy thu giữ khi khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Văn Th, sinh năm 2000, thuộc: Xóm Th, xã C, huyện K, tỉnh Hòa Bình” gửi giám định có khối lượng 0,15g (không phẩy mười lăm gam) là ma túy, loại Heroine.

Heroin (Heroine) nằm trong danh mục IA, số thứ tự: 09, Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Vật ch ng vụ án thu giữ: 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, trên mặt ghi Mẫu vật còn lại sau khi giám định trong vụ: B i Văn Th, sinh năm 2000 – Có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại: x C, huyện K, tỉnh Hòa Bình , tại mép dán có chữ ký c a giám định viên, cán bộ bàn giao mẫu vật và d u tròn đ niêm phong c a Phòng kỹ thuật hình sự, C ng an tỉnh Hòa Bình.

Bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS, ngày 04/4/2023 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình truy tố B i Văn Thvề tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 c a Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo B i Văn Th khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình như bản cáo trạng đ truy tố. Bị cáo kh ng có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng, kh ng kêu oan.

Ý kiến của những người tham gia tham gia tố tụng: Người làm ch ng, người ch ng kiến đ được triệu tập nhưng v ng mặt tại phiên tòa kh ng có lý do. Tuy nhiên, căn c vào lời khai tại giai đoạn điều tra th y ph hợp với lời khai c a bị cáo B i Văn Th.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo B i Văn Th phạm tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy :

Căn c điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo B i Văn Thtừ 18 (mười tám) tháng t đến 24 (hai mươi tư) tháng tù, thời hạn t nh từ ngày b t tạm giữ, tạm giam, ngày 11/01/2023.

Về hình phạt b sung: Không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật ch ng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu h y 01 (một) phong bì niêm phong dán k n, trên mặt ghi Mẫu vật còn lại sau khi giám định trong vụ: B i Văn Th, sinh năm 2000 – Có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại: x C, huyện K, tỉnh Hòa Bình , tại mép dán có chữ ký c a giám định viên, cán bộ bàn giao giao lại mẫu vật và d u tròn đ niêm phong c a Phòng kỹ thuật hình sự, C ng an tỉnh Hòa Bình.

Về một số v n đề khác:

Khi b t quả tang về hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra đ thu giữ 01 (một) điện thoại di động nh n hiệu TECNO SPACK, màu sơn xanh – đen, bên trong có 01 (một) sim liên lạc. Bị cáo khai nhận là c a bị cáo mua từ tháng 9 năm 2022. Cơ quan điều tra kiểm tra kh ng th y liên quan đến tội phạm, kh ng phải là vật ch ng c a vụ án nên đ trả lại cho m bị cáo là bà B i Thị Ngh bảo quản. Tại phiên tòa bị cáo xác nhận m bị cáo đ được nhận lại điện thoại giúp bị cáo nên kh ng có ý kiến gì. Do vậy kh ng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Đối tượng người đàn ng lạ mặt bán ma túy cho Th kh ng xác định được nên đề nghị Hội đồng xét xử kh ng xem xét xử lý trong vụ án này.

Quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, B i Văn Th đ thành khẩn khai báo, khai ra người bán ma túy cho mình những l n khác là đối tượng Đặng Đ ng A (sinh năm 1969) bán cho Th 01 (một) l n và bà B i Thị K (sinh năm 1971) c ng trú tại Khu Đ, thị tr n B, huyện K bán ma túy cho Th 02 (hai) l n. Cơ quan cảnh sát điều tra đ ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can về Tội mua bán trái phép ch t ma túy đối với các đối tượng trên ở một vụ án khác nên đề nghị Hội đồng xét xử kh ng xem xét giải quyết trong vụ án này.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu án ph theo quy định c a pháp luật.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.

Các ý kiến tranh luận: Bị cáo B i Văn Th nhận tội, th y m c hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị là đúng; bị cáo kh ng có ý kiến tranh luận với quan điểm c a đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận th c hành vi phạm tội c a mình là phạm tội, bị cáo r t ăn năn, hối cải, mong Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo m c hình phạt th p nh t có thể để bị cáo sớm được trở về với gia đình và x hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra, xét h i, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận th y như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra huyện K; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều đúng trình tự, th tục theo quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Về hành vi phạm tội c a bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo B i Văn Th đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình. Xét lời khai nhận tội c a bị cáo ph hợp với biên bản b t người phạm tội quả tang, ph hợp với lời khai c a người ch ng kiến, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy Hội đồng xét xử có đ căn c kết luận: Khoảng 15 giờ ngày 11/01/2023 B i Văn Thcó hành vi c t gi u, tàng trữ 0,22 gam ma túy loại Heroine ở 02 vị tr gồm: 01 gói Heroine c m tay trái c a mình, 01 gói c t ở nơi ở c a B i Văn Th tại vị tr bên dưới góc đệm kê trên giường trong phòng ng c a mình với mục đ ch sử dụng cho bản thân. Hành vi c a bị cáo B i Văn Th đ đ yếu tố c u thành tội Tàng trữ trái phép ch t ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 c a Bộ luật hình sự. Cáo trạng c a Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Hòa Bình truy tố và bản luận tội c a Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn c , đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về t nh ch t m c độ hành vi phạm tội c a bị cáo: Bị cáo B i Văn Th là người có đ y đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép ch t ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật. Bị cáo đ nhận th c rõ tác hại nguy hiểm c a ma túy sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng cho s c kh e bản thân và cho x hội, xong vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội c a mình, xâm phạm đến ch nh sách độc quyền quản lý nhà nước về ch t ma túy, ảnh hưởng x u đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, từ đó có thể phát sinh nhiều tệ nạn x hội c ng như nhiều tội phạm khác. Do vậy, c n phải có m c án tương x ng với t nh ch t, m c độ, hành vi, hậu quả mà bị cáo đ thực hiện để tiếp tục cách ly bị cáo ra kh i đời sống x hội một thời gian, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một c ng dân tốt, có ch cho x hội và để răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

. Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự:

Về tiền sự bị cáo là người nghiện ma túy, có 01 (một) tiền sự: Ngày 30/11/2022 bị Ủy ban nhân dân x C, huyện K, tỉnh Hòa Bình áp dụng biện pháp xử lý hành ch nh giáo dục tại x , phường, thị tr n theo Quyết định số 276/QĐ-XPTT. Tuy nhiên bị cáo kh ng tập trung cai nghiện mà cố ý tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng thể hiện ý th c coi thường pháp luật c n có hình phạt Th nghiêm kh c để giáo dục, cải tạo bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Kh ng có.

Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội c a mình nên c n áp dụng tình tiết giảm nh theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo có gia đình thuộc hộ ngh o, cư trú tại v ng kinh tế – x hội miền núi đặc biệt khó khăn đ ảnh hưởng kh ng nh đến nhận th c c a bị cáo nên c n áp dụng tình tiết giảm nh theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

. Về xử lý vật ch ng: 01 (một) phong bì niêm phong dán k n, trên mặt ghi Mẫu vật còn lại sau khi giám định trong vụ: B i Văn Th, sinh năm 2000 – Có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại: x C, huyện K, tỉnh Hòa Bình , tại mép dán có chữ ký c a giám định viên, cán bộ bàn giao giao lại mẫu vật và d u tròn đ niêm phong c a Phòng kỹ thuật hình sự, C ng an tỉnh Hòa Bình là ch t Nhà nước c m lưu hành, c n tịch thu tiêu h y.

. Về hình phạt b sung: Xét th y điều kiện kinh tế c a bị cáo là lao động tự do c ng việc kh ng n định, bản thân bị cáo kh ng có tài sản do vậy kh ng áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo B i Văn Thquy định tại khoản 5 Điều 249 c a BLHS.

. Về v n đề khác:

Khi b t quả tang về hành vi tàng trữ trái phép ch t ma túy, Cơ quan cảnh sát điều tra đ thu giữ 01 điện thoại di động nh n hiệu TECNO SPACK, màu sơn xanh – đen, bên trong có 01 sim liên lạc. Bị cáo khai nhận là c a bị cáo mua từ tháng 9 năm 2022. Cơ quan điều tra kiểm tra kh ng th y liên quan đến tội phạm, kh ng phải là vật ch ng c a vụ án nên đ trả lại cho m bị cáo là bà B i Thị Ngh bảo quản. Tại phiên tòa bị cáo xác nhận m bị cáo đ được nhận lại điện thoại giúp bị cáo nên kh ng có ý kiến gì. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Đối với đối tượng người đàn ng lạ mặt bán ma túy cho B i Văn Th, do Cơ quan cảnh sát điều kh ng xác định được danh t nh, địa chỉ và ch ng c xác định hành vi bán ma túy nên kh ng cơ đ cơ sở xem xét giải quyết trong vụ án này.

Quá trình điều tra c ng như tại phiên tòa, B i Văn Th đ thành khẩn khai báo, khai ra người bán ma túy cho mình những l n khác là đối tượng Đặng Đ ng A (sinh năm 1969) bán ma túy cho Th một l n và vợ Đặng Đ ng A bà B i Thị K (sinh năm 1971) c ng trú tại Khu Đ, thị tr n B, huyện K bán ma túy cho Th hai l n. Cơ quan cảnh sát điều tra đ ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can về tội mua bán trái phép ch t ma túy các đối tượng trên ở một vụ án khác nên Hội đồng xét xử kh ng xem xét giải quyết trong vụ án này.

. Về án ph : Bị cáo phải nộp án ph hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 c a Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 c a Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a y ban thường vụ quốc hội

. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 c a Bộ luật Tố tụng hình sự

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 c a Bộ luật hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo B i Văn Th phạm Tội tàng trữ trái phép ch t ma túy .

2. Về hình phạt: Xử phạt B i Văn Th 20 (hai mươi) tháng t . Thời hạn ch p hành hình phạt t t nh từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/01/2023.

3. Về xử lý vật ch ng: Căn c Điều 47 c a Bộ luật hình sự và Điều 106 c a Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu tiêu h y 01 (một) phong bì niêm phong dán kín, trên mặt ghi Mẫu vật còn lại sau khi giám định trong vụ: B i Văn Th, sinh năm 2000 – Có hành vi phạm tội về ma túy, xảy ra ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại: x C, huyện K, tỉnh Hòa Bình , tại mép dán có chữ ký c a giám định viên, cán bộ bàn giao mẫu vật và d u tròn đ niêm phong c a Phòng kỹ thuật hình sự, C ng an tỉnh Hòa Bình

Vật ch ng trên đang lưu giữ tại kho vật ch ng c a Chi cục thi hành án dân sự huyện K theo biên bản về việc giao nhận đồ vặt, tài liệu, vật ch ng ngày 04/4/2023.

4. Về án ph : Căn c vào khoản 2 Điều 136 c a Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 c a Nghị quyết số: 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo B i Văn Thphải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án ph hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn c Điều 331 và Điều 333 c a Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo B i Văn Thcó quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ