vanban.org

Bản án 21/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 18/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo NTP phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo NTP 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2022. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo NTP phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo NTP phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀ THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HSST
Ngày 18-4-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HTTỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tô Hiền Đức.

2. Ông Đặng Thanh Quang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân– Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh TNtham gia phiên tòa: Bà Trần Kim Hồng – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã HT, tỉnh TNxét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/HSST ngày 24 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: NTP, sinh ngày 25/11/1990, tại tỉnh TN; Nơi thường trú: ấp TrX, xã TrH, thị xã HT, tỉnh TN; Nghề nghiệp: Không có; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không có; Giới tính: Nam; Con ông NVL, sinh năm 1959 và bà CTL, sinh năm 1963; Vợ tên NTBT, sinh năm 1992 (đã ly hôn); Con có 02 người; Tiền án, tiền sự: Không có.

Nhân thân:

Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 50/QĐ-XPVPHC ngày 29/10/2013 của Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh TNxử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Ph. nộp xong ngày 29/11/2013.

Tại Quyết định số 03/QĐ-UNBD ngày 26/9/2017 của Ủy ban nhân dân xã TrH, thị xã Hòa Thành, tỉnh TNvề việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường với thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 26/9/2017 đến ngày 26/12/2017, bị cáo Ph. chấp hành xong ngày 28/12/2017.

Tại Quyết định số 26/2018/QĐ-TA ngày 17/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện HT(nay là Tòa án nhân dân thị xã HT), tỉnh TNáp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy đối với bị cáo Ph., thời hạn 18 tháng, bị cáo Ph. đã chấp hành xong ngày 10/11/2019.

Tại quyết định số 165/QĐ-XPHC ngày 25/11/2020 của Ủy ban nhân dân xã CG, huyện GD, tỉnh TNxử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Ph. nộp phạt ngày 26/11/2020.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 21/11/2022, tạm giam ngày 30/11/2022 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

NTP là đối tượng sử dụng ma túy, có nhân thân xấu về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 13 gia 30 phút, ngày 20/11/2022, bị cáo Ph. đang ở nhà thì có người bạn cùng tên Ph. (không rõ nhân thân, địa chỉ) đến rủ sử dụng ma túy thì bị cáo Ph. nói là "không có mà túy”. Lúc này, người bạn tên Ph. điện thoại cho một người bạn khác tên Tr. (cũng không rõ nhân thân, địa chỉ) đem ma túy và nỏ (dụng cụ sử dụng ma túy) đến nhà bị cáo Ph. và ba người cùng nhau sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng hết số ma túy Tr. đem đến thì người bạn tên Ph. đưa cho bị cáo Ph. số tiền 500.000 đồng để đi mua ma túy về tiếp tục sử dụng. Bị cáo Ph. điều khiển xe mô tô, biển số 70B1-017.29 (bị cáo Ph. trình bày là xe của Tr. cho mượn, hiện Công an đang tạm giữ) đến khu vực ấp Tr. Lưu, xã TrĐ, thị xã HT gặp một người lên T. (không rõ nhân thân, địa chỉ) mua 01 (một) bịch ma túy với giá 500.000 đồng, rồi cầm trên tay điều khiển xe đi về. Khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, khi đi đến hẻm số 95, đường Nguyễn Văn Linh, đoạn thuộc ấp NTr, xã TrĐ, thị xã HT, tỉnh TN, bị cáo Ph. bị lực lượng Công an xã TrĐ, thị xã HT, tỉnh TNdừng xe kiểm tra phát hiện trên tay trái của bị cáo Ph. có cầm 01 (một) bịch nylon được hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong ký hiệu M.

Tại Kết luận giám định số 1507/KL-KTHS ngày 23/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN, kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon hàn kín (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4238 gam.

Qua xác minh, Ph. không có tài sản nên không kê biên.

Tại Cáo trạng số: 07/CT-VKSHT ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã HT, tỉnh TNđã truy tố bị cáo NTP về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HT, tỉnh TNgiữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Ph. về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo NTP phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo NTP từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo do bị cáo không có tài sản.

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Đối với người tên Ph., Tr. và T. không rõ nhân thân, địa chỉ, khi nào làm rõ, xử lý sau.

Bị cáo Ph. nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo nhận thức việc làm của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xử phạt mức án nhẹ để sớm đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hòa Thành, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, bị cáo Ph. khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở xác định:

Vào lúc 14 giờ 15 phút, ngày 21/11/2022, tại hẻm số 95, đường Nguyễn Văn Linh thuộc địa phận ấp NTr, xã TrĐ, thị xã HT, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Ph. có hành vi tàng trữ 0,4238 gam chất ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị bắt quả tang. Bị cáo Ph. là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lợi dụng mối quan hệ xã hội, tìm cách liên lạc mua ma túy của người khác, cất giấu sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Bị cáo dù không có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng vẫn tái nghiện và tàng trữ ma túy để sử dụng nên hành vi của bị cáo Ph. đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HT, tỉnh TNgiữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng và lời luận tội là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, việc sử dụng ma túy sẽ làm lây truyền các căn bệnh thế kỷ như HIV và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nhưng bất chấp hậu quả, bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Ph. thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo không có tài sản.

Về thu giữ vật chứng:

- 01 (một) bì thư được niêm phong có chữ ký ghi họ và tên NHS, HCA, NTP và dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, bên trong có 01 (một) bịch nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng (kí hiệu M), là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4238 gam, khối lượng sau giám định 0,3374 gam.

- 01 (một) xe mô tô biển số 70B1-017.29, nhãn hiệu Hado, màu tím, số máy ZS100FMG*82A01290*, số khung VHSPCG0081H003817, đã qua sử dụng, bị cáo Ph. trình bày là xe của đối tượng tên Tr., tuy nhiên, tại phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 10/01/2023 của Công an thị xã Hòa Thành, tỉnh TNxác định, xe mô tô nêu trên là của chủ xe CTMC, sinh năm 1991. Tại Biên bản ghi lời ngày ngày 16/02/2023 đối với chị CTMC, xác định, xe mô tô nêu trên trước đây là của chị nhưng chị đã bán cho người khác, chị không nhớ họ tên, địa chỉ của người mua, chị cũng không tranh chấp gì. Công an thị xã HT, tỉnh TNcũng tiến hành thông báo trên Báo TNvề việc truy tìm chủ sở hữu nhưng đến nay không ai nhận. Ngoài ra, tại Biên bản xác minh ngày 15/02/2023 của Công an thị xã HT, tỉnh TNvề việc xác định nhân thân, lai lịch của người tên “Tr.” tại địa phương, xác định không có đối tượng tên Tr. như lời bị cáo Ph. trình bày. Do đó, không có cơ sở xác định chủ sở hữu xe mô tô là của người tên Tr. và đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

Đối với người tên Ph., tên Tr. và tên T. không rõ nhân thân, địa chỉ, khi nào làm rõ, xử lý sau.

Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo NTP phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo NTP 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi số 1507/KL-KTHS có chữ ký của Giám định viên VQT, Trợ lý giám định NTTD và dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh TN, khối lượng sau giám định 0,3374 gam.

Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 70B1-017.29, nhãn hiệu Hado, màu tím, số máy ZS100FMG*82A01290*, số khung VHSPCG0081H003817, đã qua sử dụng.

3. Về án phí: Bị cáo NTP phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh TNtrong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ