vanban.org

Bản án 21/2023/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 21/06/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Rơ Mah Thiên - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
____________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HSPT
Ngày 21-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Hiên

Các Thẩm phán:Ông Võ Văn Bình; Ông Nguyễn Tiến Sỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nga, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.

Ngày 21-6-2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 33/2023/TLPT-HS ngày 12/5/2023 đối với bị cáo Rơ Mah Th, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HSST ngày 22/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.

* Bị cáo có kháng cáo: Rơ Mah Th. Sinh năm 2002, tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Nơi cư trú: làng K, xã Ia K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: làm nông. Trình độ học vấn: 6/12. Dân tộc: Jrai. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Công giáo. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Thái Quang H, sinh năm 1944 và bà Rơ Mah Ph, sinh năm 1979. Bị cáo chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đặng Ngọc Ba, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 45 ngày 13/6/2022, Rơ Mah Th không có giấy phép lái xe, sau khi uống rượu với bạn bè vào buổi trưa tại Làng K, xã Ia K, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, đã điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki, chở theo phía sau là Kpuih H’ Ngân, đi từ hướng Làng Lung về Làng Krai, xã Ia Kriêng, huyện Đ. Khi đến đoạn đường liên huyện thuộc địa phận Làng Krai, xã Ia Kriêng, huyện Đ, tỉnh Gia Lai, Rơ Mah Th ngoảnh mặt nhìn sang phía bên trái của ngã ba có xe nào qua lại hay không và không chú ý quan sát phía trước nên khi vừa qua ngã ba phát hiện bà Rơ Mah H’Bẹ, đang đi bộ từ bên phải sang bên trái đường và đã đi hết phần đường bên phải theo hướng đi của Thiên, nhưng do khoảng cách quá gần, Thiên đánh lái sang trái qua phần đường bên trái để né tránh nhưng không kịp, nên đã tông vào bà H’Bẹ. Hậu quả: bà Rơ Mah H’Bẹ bị thương nặng phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Gia Lai, Thiên và Ngân bị thương nhẹ. Đến ngày 15 tháng 6 năm 2022 bà H’Bẹ tử vong do chấn thương sọ não.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2023/HSST ngày 22/3/2023 Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Rơ Mah Th phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Rơ Mah Th 3 (Ba) năm tù.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định pháp luật.

3. Kháng cáo của bị cáo: Ngày 28/3/2023 bị cáo Rơ Mah Th kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo

4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ, giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo.

Trong phần tranh luận, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt.

Người bào chưa cho bị cáo: Đồng ý bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và điều luật. Đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường xong thiệt hại và được đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo; phạm tội lần đầu giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, có đủ cơ sở khẳng định rằng:

Tại phiên toà, bị cáo Rơ Mah Th khai nhận rõ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản án sơ thẩm: khoảng 18 giờ 45 ngày 13/6/2022, Rơ Mah Th không có giấy phép lái xe, điều khiển xe mô tô hiệu Suzuki có dung tích xi lanh 110cm3 sau khi đã uống rượu trong hơi thở có nồng độ cồn 0.945mg/l khí thở, vượt quá quy định, chở theo phía sau là Kpuih H’ Ngân theo hướng Làng Lung về Làng Krai, xã Ia Kriêng, huyện Đức Cơ. Khi đến đoạn đường liên huyện thuộc địa phận Làng Krai, xã Ia Kriêng, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai, Rơ Mah Th không chú ý quan sát phía trước, đi vào làn đường bên trái nên đã tông vào bà Rơ Mah H’Bẹ đang đi bộ sang đường. Hậu quả, bà H’ Bẹ chết do chấn thương sọ não.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Rơ Mah Th về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tình tiết định khung “Không có giấy phép lái xe” và “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo: bị cáo phạm tội với 2 tình tiết tăng nặng định khung không có giấy phép lái xe và sử dụng rượu bia, nồng độ cồn vượt mức cho phép; nguyên nhân gây ra tai nạn lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, dẫn đến hậu quả làm bị hại chết; xem xét đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: bị cáo phạm tội lần đầu; sau khi phạm tội, luôn thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã bồi thường xong toàn bộ thiệt hại cho bị hại với số tiền 110.000.000 đồng, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo là người dân tộc thiểu số, là lao động chính trong gia đình, cha bị cáo già yếu. Giai đoạn phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm đơn xác nhận hộ khó khăn. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử bị cáo mức án dưới khung hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do đó, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo

Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUY T ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Rơ Mah Th. Sửa bản án sơ thẩm số 11/2023/HSST ngày 22/3/2023 về phần hình phạt đối với bị cáo Rơ Mah Th

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 54 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Rơ Mah Th 2 (hai) năm 6 (Sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.

2.Về án phí: căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Rơ Mah Th không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.

Cỡ chữ