- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị N mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HS-ST Ngày 22 - 3 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhung
Ông Lê Thúc Giang.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Nhật Mai - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 3 năm 2023 tại Nhà văn hóa tổ 3, phường Trưng Nhị, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị N, sinh ngày 12/6/1985 tại Hà Nội; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: xã Đ, huyện Q, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B (đã chết) và con bà Hoàng Thị D; chồng: Đỗ Duy D (đã chết); con: có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 19 tháng 12 năm 2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
* Người chứng kiến:
Anh Đào Anh T, sinh năm 1983 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị N, sinh năm 1985, có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (HKTT) ở xã Đ, huyện Q, thành phố Hà Nội là người không có nghề nghiệp, thu nhập, nên nảy sinh ý định đi mua ma túy rồi bán lại cho các con nghiện để kiếm lời. Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 19 tháng 12 năm 2022, N đi bộ đến khu vực nhà ga Phúc Yên, thuộc địa phận phường Trưng Trắc, thành phố Phúc Yên, tìm và mua được 02 gói ma túy (01 gói loại ma túy đá và 01 gói loại ma túy ngựa) của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000đ, để bán lại kiếm lời.
Khoảng 11 giờ cùng ngày, tại khu vực bến xe cũ thuộc địa phận phường Hùng Vương, thành phố Phúc Yên, có 01 người thanh niên có dáng vẻ như người nghiện ma túy, tự khai tên là Nguyễn Văn C, sinh năm 1990 ở xã Tân Dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, đến gặp và hỏi mua ma túy của N, N đồng ý bán cho C hai gói ma túy nêu trên với giá 500.000đ. Khi N nhận, cầm 500.000đ của C và lấy ma túy ra để bán nhưng chưa kịp đưa cho C thì bị Công an phường Hùng Vương bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ tại lòng bàn tay phải của Trần Thị N: 02 túi nilon màu trắng, trong đó có 01 túi bên trong chứa các tinh thể dạng đá màu trắng, túi ni lon này được niêm phong theo quy định ký hiệu A1; 01 túi ni lon màu trắng bên trong có chứa 02 viên nén hình tròn màu hồng được niêm phong theo quy định ký hiệu A2; thu tại túi quần bên trái phía trước của N số tiền 500.000đ, N khai nhận là tiền vừa bán ma túy cho C mà có; thu giữ mẫu nước tiểu của Trần Thị N để giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 3775/KLGĐ ngày 27/12/2022, Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định và kết luận: “Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2155 gam, loại Methaphetamine;02 viên nén màu hồng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy có khối lượng 0.1818gam, loại Methaphetamine”; Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu: A1= 0,1923 gam, A2= 0.1563 gam cùng toàn bộ bao gói”.
Ngày 27/12/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra bản Kết luận giám định số 3775/KLGĐ đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Trần Thị N, kết luận: “Không tìm thấy chất ma túy thường gặp (Morphin; Heroin; Methaphetamine; MDMA; Ketamine; 2C-B; TFMPP) trong mẫu nước tiểu thu của Trần Thị N … gửi đến giám định; Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu: 0,00ml mẫu cùng toàn bộ bao gói”.
Về nguồn gốc ma túy, N khai sáng ngày 19 tháng 12 năm 2022 mua của một người đàn ông tại khu vực phường Trưng Trắc - Phúc Yên với giá 200.000đ, để bán lại kiếm lời. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được đối tượng bán ma túy cho N, khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với đối tượng tự khai là Nguyễn Văn C, sinh năm 1990 có hộ khẩu thường trú: tại , thành phố Hà Nội có hành vi mua trái phép chất ma túy của N nhưng chưa kịp mua thì bị bắt quả tang. Hành vi của C không cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cơ quan điều tra đã rà soát, xác minh tại phường Trưng Trắc và xã T, huyện S, thành phố Hà Nội là địa chỉ ban đầu C đã khai nhưng không xác định được đối tượng nào có nhân thân lai lịch như trên, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 26/CT - VKSPY ngày 27 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố Trần Thị N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Trần Thị N ; sau khi đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự : Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51: Xử phạt bị cáo Trần Thị N từ 02 (Hai) năm 6 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm 9 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 19 tháng 12 năm 2022, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa bị cáo Trần Thị N đã khai nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt tại phiên tòa xong tại Cơ quan cảnh sát điều tra đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo và tài liệu chứng cứ đã thu thập được.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý kiến của kiểm sát viên, lời trình bày của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo Trần Thị Nđã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 19 tháng 12 năm 2022, lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định:
Hồi 12 giờ 15 phút ngày 19 tháng 12 năm 2022, tại khu vực tổ 2, phường Hùng Vương, thành phố Phúc Yên, Trần Thị N, sinh năm 1985 ở xã Đ, huyện Q, thành phố Hà Nội có hành vi tàng trữ để bán trái phép 0.3973g ma túy, loại Methaphetamine cho một người nam thanh niên tự khai tên là Nguyễn Văn C, sinh năm 1990 ở xã T, huyện S, thành phố Hà Nội, nhưng chưa kịp bán thì bị bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Trần Thị N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cụ thể khoản 1 điều 251 BLHS quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”
….
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 26/CT - VKSPY ngày 27 tháng 02 năm 2023 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Thị N là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an địa phương. Vì vậy, việc đưa vụ án ra xét xử công khai là cần thiết và phải xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nên cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian như đề nghị của Viện kiểm sát mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung, cũng như giúp bị cáo cải tạo thành người công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán phép chất ma túy vì mục đích lợi nhuận, tuy nhiên quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập. Vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng vụ án: Mẫu vật còn lại sau giám định mẫu A1= 0,1923 gam, A2= 0.1563 gam, 01 chai nhựa chứa 0,00ml mẫu cùng toàn bộ bao gói do cơ quan giám định hoàn lại cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với số tiền 500.000 đồng thu giữ trong túi của N, N khai là tiền bán ma túy cho Nguyễn Văn C, C khai dùng số tiền này để mua ma túy về sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với đối tượng bán ma túy cho N sáng ngày 19 tháng 12 năm 2022, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được đối tượng bán ma túy cho N, khi nào làm rõ xử lý sau.
Đối với đối tượng tự khai là Nguyễn Văn C, sinh năm 1990 có hộ khẩu thường trú: tại T, huyện S, thành phố Hà Nội có hành vi mua trái phép chất ma túy của Năm nhưng chưa kịp mua thì bị bắt quả tang. Cơ quan điều tra đã rà soát, xác minh tại xã T, huyện S, thành phố Hà Nội là địa chỉ ban đầu C đã khai nhưng không xác định được đối tượng nào có nhân thân lai lịch như trên, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Thị N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Thị N 02 (Hai) năm 8 (Tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 19 tháng 12 năm 2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định A1= 0,1923 gam, A2= 0.1563 gam cùng toàn bộ bao gói niêm phong sau giám định; 01 chai nhựa chứa 0,00ml mẫu cùng toàn bộ bao gói sau giám định.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền 500.000 đồng.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 06 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Trần Thị N phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND thành phố Phúc Yên; - Công an thành phố Phúc Yên; - Chi cục THA dân sự thành phố Phúc Yên; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Cơ quan THA hình sự; - UBND xã Đ; - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Vũ Thị Hiền |