- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm An- Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 2 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HS-ST Ngày: 04 - 7 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và bà Hồ Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 20/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 và Thông báo số 1255/TB-TA ngày 23/6/2023 về việc thay đổi thời gian xét xử đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm A (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 01/01/1965 tại tỉnh Quảng Nam; nơi ĐK HKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 29, phường T, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 10/12; con ông Phạm D và bà Lê Thị C (đều đã chết); Hoàn cảnh gia đình: Gia đình có 03 anh em ruột, bị cáo là con út; Vợ: Lê Thị Hương L, sinh năm 1975; Con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/02/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1949; địa chỉ: Thôn Phò N, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Anh Trần Tuấn N, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn Phò N, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế - là con của bị hại; có mặt.
+ Ông Trần Văn C, sinh năm 1943; địa chỉ: Thôn Phò N, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế - là chồng của bị hại; vắng mặt.
+ Ông Trần Tuấn S, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn Phò N, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế - là con của bị hại; vắng mặt.
+ Chị Trần Thị Hồng T, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn Phò N, Xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế - là con của bị hại; vắng mặt.
+ Chị Trần Thị Hồng H, sinh năm 1980; địa chỉ: Số 90 P, phưởng K, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế. - là con của bị hại; vắng mặt.
+ Chị Trần Thị Hồng T, sinh năm 1984; địa chỉ: 13/26 L, phường A, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế - là con của bị hại; vắng mặt.
Những người vắng mặt đã uỷ quyền hợp pháp cho con của bị hại là anh Trần Tuấn N tham gia tố tụng và có toàn quyền quyết định các vấn đề liên quan của vụ tai nạn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ vận tải Sơn Hiếu Ngọc; địa chỉ trụ sở: 128 Trung Lương 10, phường Hoà Xuân, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng; người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Phi H1-Giám đốc; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 10 phút ngày 30/12/2022 (có giấy phép lái xe hạng FC) điều khiển xe ô tô đầu kéo 43C - 108.73 kéo theo Sơmi-rơmooc 43R-012.78 đi trên Quốc lộ 1A (QL1A) theo hướng Quảng Trị - Huế trong điều kiện trời đang mưa. Khi đi đến Km 803+800m thuộc địa phận Thôn Phò N, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế thì phát hiện có bà Hoàng Thị T đang đi bộ qua đường theo hướng từ trái sang phải ở đoạn khe hở của dải phân cách cứng. Thấy vậy, Phạm A rà phanh với mục đích là giảm tốc độ của xe nhằm giữ khoảng cách để bà T có thể đi qua đường trước đầu xe mình; đợi khi bà T qua đường thì xe tiếp tục di chuyển. Tuy nhiên, khi bà T đang đi qua ở giữa làn đường (thuộc làn đường di chuyển của xe ô tô) thì mới phát hiện xe ô tô của An điều khiển đang đến gần mình. Do hoảng loạn nên bà T không tiếp tục đi về phía trước mà hướng người giật lùi lại phía sau. Phạm A phát hiện sự việc và đạp chết phanh xe và đánh lái sang phải nhưng do khoảng cách đã quá gần, trọng tải trên xe quá lớn nên không dừng lại kịp; dẫn đến bên trái đầu xe ô tô va chạm vào người bà T làm cho bà T ngã ra đường. Hậu quả: bà Hoàng Thị T chết tại chỗ.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện có cơ sở xác định:
- Đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường đôi thuộc QL1A, ở giữa có dải phân cách cứng bằng bê tông. Nơi xảy ra tai nạn là phần đường một chiều về hướng Quảng Trị - Huế, được thảm nhựa bằng phẳng, thẳng, tầm nhìn không bị che khuất, mặt đường rộng tổng thể 9m. Phần đường dành cho xe cơ giới rộng 7m, dành cho xe thô sơ và người đi bộ 2m. Ở giữa có vạch sơn màu trắng đứt quãng chia thành 02 làn cùng chiều rộng 3.5m. Tại thời điểm khám nghiệm trời mưa phùn, nhẹ. Sau khi xảy ra tai nạn, ô tô đỗ đầu xe hướng Huế, đuôi xe hướng Quảng Trị, tâm bánh đầu tiên bên phải cách mép đường chuẩn 1,8 mét, xe có hướng chếch về bên phải đường. Nạn nhân là người đi bộ đã được đưa đi cấp cứu.
- Hệ thống phanh, đèn còi của xe ô tô đầu kéo hoạt động bình thường, không phát hiện dấu vết trên phương tiện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 325-22/TT ngày 04/01/2023 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế, đối với bà Hoàng Thị T, kết luận: Nguyên nhân chết là do đa chấn thương sọ não và gãy xương cột sống cổ C3-C4 do tai nạn giao thông.
Tại phiếu Kiểm tra nồng độ cồn lúc 20 giờ 33 phút 59 giây đối với Phạm A có kết quả là 0.000 mg/L.
Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Điền đã tạm giữ và xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu. Riêng giấy phép lái xe của bị cáo tiếp tục tạm giữ chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra chủ phương tiện và bị cáo đã thỏa thuận với các đại diện hợp pháp của bị hại tự nguyện bồi thường số tiền là 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng); hai bên đã giao nhận đủ và không yêu cầu gì thêm, cam kết không khiếu nại, khiếu kiện gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS-PĐ ngày 24/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố Phạm A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Tại phiên toà đại diện hợp pháp của bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo, về trách nhiệm dân sự đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu gì thêm.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Chứng tỏ trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng.
Về hành phạm tội: Tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 16 giờ 10 phút, ngày 30 tháng 12 năm 2022, Phạm A điều khiển xe ô tô đầu kéo 43C - 108.73 kéo theo Sơmi-rơmooc 43R - 012.78 đi trên QL1A theo hướng Quảng Trị - Huế. Khi đến Km 803+800m thuộc địa phận thôn Phò N, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế trong điều kiện thời tiết mưa, Phạm A phát hiện phía trước bên trái theo chiều di chuyển của xe mình có bà Hoàng Thì T đang vượt qua dải phân cách cứng để đi bộ qua đường nhưng bị cáo đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn; hành vi của bị cáo là bất cẩn, quá chủ quản, tự tin rằng bị hại sẽ đi qua đường trước khi xe ô tô do mình điều khiển tiến đến vị trí đó, nhưng do bị hại không tiếp tục băng qua đường mà đi lùi lại, nên để cho bên trái đầu xe do mình điều khiển va chạm với bị hại làm cho bị hại ngã ra đường. Hậu quả gây ra tai nạn giao thông làm cho bà Hoàng Thị T chết.
Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người đúng tội và đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thấy rằng:
Bị cáo Phạm A là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc điều khiển phương tiện tham gia giao thông mà vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ sẽ gây ra những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe cho bản thân và cho người khác; sẽ bị xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Nhưng do ý thức chủ quan bị cáo đã không tuân thủ các quy định của pháp luật về an toàn giao thông trong quá trình tham gia giao thông dẫn đến việc phạm tội.
Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án này nguyên nhân xảy ra tai nạn do lỗi hỗn hợp:
Lỗi của bị cáo là khi điều khiển xe ô tô trong điều kiện thời tiết mưa, không làm chủ được tốc độ, không giữ khoảng cách an toàn với người qua đường. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm gây ra hậu quả làm chết một người.
Bị hại cũng có một phần lỗi khi qua đường không đúng quy định. Khi qua đường, bị hại đã vượt qua giải phân cách, không chú ý quan sát các xe đang đi tới, khi xe ô tô do bị cáo điều khiển tới gần thì bị hại mới phát hiện dẫn đến hoảng loạn nên không tiếp tục đi qua đường như bình thường mà đi lùi lại đến giải phân cách cứng. Việc lách qua khe hở của giải phân cách cứng để đi bộ băng qua đường QL1A của người bị hại là vi phạm khoản 3, khoản 4 Điều 32 Luật Giao thông đường bộ.
Do đó, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ, cụ thể: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bị cáo đã thoả thuận về việc bồi thường khắc phục hậu quả. Phía đại diện của bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt. Xét bị cáo có nhân thân tốt từng tham gia nghĩa vụ quân sự từ 1984 – 1987 nên cũng có phần công lao trong quá trình phục vụ quân đội, có nơi cư trú rõ ràng; vì vậy áp dụng điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự, đồng thời việc phạm tội của bị cáo có một phần lỗi từ bị hại. Căn cứ Điều 2 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát giáo dục là đảm bảo việc giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bên đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường đầy đủ và không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho người sở hữu hợp pháp. Ngoài ra cơ quan điều tra đã thu giữ giấy phép lái xe mang tên Phạm A chuyển theo hồ sơ vụ án. Xét đây là giấy tờ tùy thân nên trả lại cho bị cáo khi án có hiệu lực.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Phạm A 01(Một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm; tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/7/2023).
Giao bị cáo Phạm A cho Uỷ ban nhân dân phường T, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Án xử công khai, báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế; - VKSND huyện Phong Điền; - Công an huyện Phong Điền; - THADS huyện Phong Điền; - Bị cáo, Đại diện HP của bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu: HSVA, THAHS; - Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Văn Đạt |