vanban.org

Bản án 21/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên Tuyên án 25/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Xử phạt: Bị cáo Trần Văn K 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01/02/2023. [3] Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 114/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,312 gam Heroine, 02 mảnh gói giấy bạc, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "K Ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HS-ST
Ngày: 25 - 4 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HƯNG YÊN - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Văn Hạnh; bà Nguyễn Thị Hệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đào Ngọc Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023, tại Hội trường nhà văn hóa Ủy ban nhân dân xã T, thành phố Hưng Yên, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2023/TLST-HS ngày 23/03/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 11/4/2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn K (tên gọi khác: Không), sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn H, xã T1, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 7/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Trần Quang C và bà Bùi Thị B. Vợ là Nguyễn Thị K1. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2019.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/02/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Vũ L, sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn L1, xã T2, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 01/02/2023 Trần Văn K đi xe bus từ nhà đến khu vực cầu Yên Lệnh thuộc địa phận thành phố Hưng Yên với mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng. Khi đến nơi, K gặp một người thanh niên dáng vẻ giống người nghiện ma túy, K lại gần nói chuyện thì biết người thanh niên này tên là B1 (không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) có bán ma túy. K hỏi “Anh có hàng không để cho em hai trăm” thì B1 trả lời “Có đưa tiền đây”. K đưa 200.000 đồng cho B1. B1 cầm tiền rồi bỏ đi, khoảng 10 phút sau quay lại đưa cho K hai gói giấy bạc. K mở gói giấy bạc ra xem thì thấy bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục, bột. Do là người nghiện ma túy nên K biết đây là ma túy Heroine. K cất hai gói giấy bạc vào túi áo khoác phía ngoài bên trái đang mặc. Sau đó, B1 bỏ đi còn K đi bộ tìm chỗ sử dụng ma túy. Khi K đi đến khu vực trước cửa cây xăng H, đường Đ, phường L, thành phố Hưng Yên thì bị lực lượng công an bắt quả tang.

Ngày 01/02/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hưng Yên tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn K tại thôn H, xã T1, huyện Phù Cừ, tỉnh Hưng Yên. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 01/02/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hưng Yên kiểm tra nhanh chất ma túy đối với K. Kết quả dương tính với nhóm ma túy dạng thuốc phiện (Heroine, Morphin).

Kết luận giám định số 114/KL-KTHS ngày 04/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hưng Yên, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì niêm phong có tổng khối lượng là 0,321g là ma túy loại Heroine. Hoàn lại trong một niêm phong ghi số 114/KL-KTHS bên trong có 0,312g ma túy, loại Heroine; 02 mảnh gói giấy bạc và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Vật chứng thu giữ: 02 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất màu trắng dạng cục, bột. Niêm phong trong 01 phong bì dán kín.

Quá trình điều tra, Trần Văn K đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với vật chứng thu giữ, người làm chứng và các tài liệu thu thập có trong hồ sơ.

Tại bản Cáo trạng số 20/CT-VKS-TPHY ngày 22/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên đã truy tố Trần Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo không thắc mắc nội dung bản cáo trạng, thành khẩn khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên: Giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong hoàn mẫu gủi giám định số 114/KL-KTHS(MT)

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hưng Yên, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, đã có đủ căn cứ kết luận: Hồi 09 giờ 00 phút ngày 01/02/2023, tại khu vực trước cửa hàng xăng dầu H, đường Đ, phường L, thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên, Trần Văn K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,321 gam ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không bị oan sai.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, tỏ thái độ ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo lần đầu tiên bị cáo phạm tội. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, sẽ được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, góp phần làm cho tệ nạn ma túy tại địa phương ngày càng gia tăng. Đây là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và hạnh phúc gia đình của chính bị cáo. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 114/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,312 gam Heroine là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 02 mảnh gói giấy bạc; 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định dùng để gói và đựng ma túy không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo K tại khu vực cầu Yên Lệnh, K khai tên là B1, không quen biết, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, khi mua ma túy không có ai chứng kiến. Quá trình điều tra không có căn cứ để xử lý là đúng quy định pháp luật, nên HĐXX không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[2] Xử phạt: Bị cáo Trần Văn K 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01/02/2023.

[3] Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 114/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,312 gam Heroine, 02 mảnh gói giấy bạc, 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

(Vật chứng trên có đặc điểm, trọng lượng theo Quyết định chuyển vật chứng số 18/QĐ-VKS-TPHY ngày 22/03/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên).

[4] Về án phí: Bị cáo Trần Văn K phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ