- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh L tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 314 MT/PC09 là ma túy còn lại sau giám định (theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 03-7-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thành phố H).
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HS-ST Ngày 14-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN D, THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Thanh Giản
Ông Trần Anh Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Trang Thanh - Thư ký Toà án nhân dân quận D, thành phố H.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận D, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Trà My - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận D, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Anh L, sinh ngày 13 tháng 7 năm 1993 tại H. Nơi cư trú: Số 5/68 Nguyễn Trãi, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, thành phố H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Anh Dũng (đã chết) và bà Mai Thị Thanh; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nề nhân thân: Bản án số 75/2017/HSST ngày 31-8-2017, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 12 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản, ngày 18-5-2018 chấp hành xong hình phạt tù, thi hành xong án phí hình sự và bồi thường dân sự ngày 02/5/2018 (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05-4-2023, đến ngày 11-4-2023 chuyển tạm giam, đến ngày 08-5-2023 được áp dụng biện pháp Bảo lĩnh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do bản thân có nhu cầu mua ma túy về sử dụng, khoảng 09 giờ ngày 05-4-2023, L điều khiển xe mô tô 16P9- 3318 đi từ nhà đến khu vực đường tàu Mê Linh, quận Lê Chân mua của 01 người đàn ông không quen biết 200.000 đồng được 01 gói ma túy. Mua xong, L cất gói ma túy vào trong quần lót đang mặc rồi điều khiển xe sang quận D tìm chỗ vắng để sử dụng. Khi đi đến tổ dân phố Ninh Hải 1, phường Anh Dũng thì bị lực lượng Công an dừng xe kiểm tra bắt quả tang thu giữ trong người L 01 gói nilon màu trắng kích thước (2 x 2,5) cm bên trong chứa tinh thể màu trắng cùng phương tiện.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Anh L tại số 5/68 Nguyễn Trãi, phường Máy Tơ, quận Ngô Quyền, Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật gì liên quan đến ma túy.
Kết luận giám định số 314/KL-KTHS ngày 10-4-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố H, kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Anh L gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,39 gam, là loại Methamphetamine.
Vật chứng: 01 phong bì niêm phong số 314 MT/PC09 là ma túy còn lại sau giám định chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận D quản lý; 01 xe mô tô 16P9-3318, kết quả xác minh là tài sản hợp pháp của bà Mai Thị Thanh (mẹ đẻ L), bà Thanh cho L mượn xe nhưng không biết L sử dụng để đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà Thanh.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho L, Cơ quan điều tra chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ nên tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSDK ngày 30-6-2023, Viện Kiểm sát nhân dân quận D đã truy tố Nguyễn Anh L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung cáo trạng, lời nói sau cùng bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh L với mức án từ 18 đến 21 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo vì điều kiện kinh tế khó khăn. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận D, thành phố H, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố H, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 40 phút ngày 05-4-2023, tại tổ dân phố Ninh Hải 1, phường Anh Dũng, quận D, thành phố H, Nguyễn Anh L có hành vi cất giấu trái phép 0,39 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương cần phải xử lý nghiêm và có hình phạt nghiêm khắc phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên.
Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo tuy không có tiền án, tiền sự nhưng nhân thân đã từng bị xét xử về hành vi vi phạm pháp luật, do đó cần có hình phạt nghiêm khắc, xử phạt bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5.3] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật cấm lưu hành nên cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy .
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Anh L 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, trừ cho bị cáo số ngày tạm giữ, tạm giam từ 05-4-2023 đến ngày 08-5-2023. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 314 MT/PC09 là ma túy còn lại sau giám định (theo Biên bản bàn giao vật chứng ngày 03-7-2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thành phố H).
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, nộp, miễn giảm, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Anh L phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Anh L có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận D; - VKSND TP H; - CQCSĐT Công an Q.D; - Cơ quan THAHS quận D; - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ CATP H; - Chi cục THADS quận D; - Sở Tư pháp; - Trại Tạm giam Công an TP H; - Bị cáo; - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú; - TANDTP H; - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |