vanban.org

Bản án 21/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Tuyên án 29/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐỖ HỒNG Q và HOÀNG VĂN C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!
HUYỆN!V!
TỈNH!H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HS-ST
Ngày 29-6-2023
!

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!V,!TỈNH!H!

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Minh Biên.

Bà Trần Thị Hoài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Thắng, bà Phạm Đài Trang - Kiểm sát viên.

Vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 29 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2023 đối với các bị cáo:

1.!ĐỖ!HỒNG!Q; Sinh ngày 25 tháng 5 năm 1994 tại: huyện V, tỉnh H; Nơi cư trú: tổ 17, thị trấn Vị Xuyên, huyện V, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Hoàng L, sinh năm 1970 và bà Nông Thị N, sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: 02 tiền án:

+ 01 Tiền án về tội cố ý làm hư hỏng tài sản năm 2020 bị TAND huyện V xử phạt hình phạt tiền, số tiền 10.000.000đ (chưa được xóa án tích);

+ 01 Tiền án về tội vận chuyển hàng cấm (pháo nổ) năm 2020 bị TAND tỉnh H xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 tháng (chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

2.!HOÀNG!VĂN!C; Sinh ngày 07 tháng 5 năm 1998 tại: huyện V, tỉnh H; Nơi cư trú: Thôn Riềng, xã Ngọc Minh, huyện V, tỉnh H; Nơi ở hiện nay: Tổ 10, thị trấn Vị Xuyên, huyện V, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không;

1

Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn V, sinh năm 1977và bà Quan Thị N, sinh năm 1976; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Chẩu Văn C. Sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn Riềng, xã Ngọc Minh, huyện V, tỉnh H. Vắng mặt có lý do.

- Người làm chứng: Ông Đỗ Hoàng L. Vắng mặt và Bà Nông Thị N. Có mặt.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ, ngày 21/12/2022 Đỗ Hồng Q, sinh năm: 1994, trú tại: tổ 17, thị trấn Vị Xuyên, huyện V, tỉnh H rủ HOÀNG VĂN C, sinh năm: 1998, trú tại: thôn Riềng, xã Ngọc Minh, huyện V, tỉnh H đi đến thành phố Lào C, tỉnh Lào C để chơi. Trước khi đi, C hỏi mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển kiểm soát: 29V5-104.23 của Chẩu Ngọc G, sinh năm: 2006, trú tại: thôn Riềng, xã Ngọc Minh, huyện V, tỉnh H. Lúc mượn xe C nói với G là mượn xe đi ăn cưới tại tỉnh Tuyên Q nên G đã đồng ý cho mượn xe đi. Q và C xuất phát từ nhà do C thuê để ở tại tổ 10, thị trấn Vị Xuyên, huyện V, tỉnh H đi theo đường Quốc lộ 2 đến huyện Bắc Q rồi rẽ vào đường Quốc lộ 279 và đi đến cổng vào trạm dừng nghỉ chân của nhà xe Quang Khải thuộc địa phận thôn Giàng Thàng, xã Đồng T, thành phố Lào Ci, tỉnh Lào C thì cả hai dừng lại nghỉ. Tại đây, Q xuống xe đi tìm người để hỏi đường và những chỗ vui chơi còn C ngồi trên xe đợi. Sau đó Q gặp một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ đang ngồi trên xe mô tô dựng cạnh đường, Q đến gần hỏi thì người đàn ông này trả lời ở đây có nhiều tụ điểm ăn chơi lắm, có cả những tụ điểm ăn chơi sử dụng ma túy, mà ở đây ma túy bán rẻ hơn ở những chỗ khác. Khi nghe thấy vậy Q quay lại xe nói với C việc ở đây bán ma túy với giá rẻ thì cả hai thống nhất sẽ mua ma túy về chia nhau sử dụng, Q quay lại chỗ người đàn ông kia hỏi mua ma túy thì người đó nói giá bán với Q là 100.000đ (một trăm nghìn đồng)/01 tép, Q mua 23 (hai mươi ba) tép, Q bỏ ra 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng) tiền cá nhân trả trước để mua ma túy rồi về sẽ chia nhau, do trước đó Q nợ tiền C nên sẽ trừ vào nợ. Người đàn ông này đưa cho Q một gói giấy ni lông bên trong có ma túy, Q cầm lấy và quay lại xe đưa cho C cất giữ trong người. Sau khi mua được ma túy Q và C đi đến một nhà nghỉ tại trung tâm thành phố Lào C (không xác định được tên nhà nghỉ và địa chỉ) rồi ngủ ở đó một đêm đến sáng ngày 22/12/2022 thì cùng nhau đi về nhà của Q tại tổ 17, thị trấn Vị Xuyên, huyện V, tỉnh H. Khi về đến nhà có mẹ đẻ Q ở nhà, nên cả hai trốn vào trong phòng ngủ của Q để lấy ma túy đã mua được ra chia nhau sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ 23 (hai mươi ba) gói ma túy loại Heroine có tổng khối lượng 5,569g (năm phẩy năm

2

trăm sáu mươi chín gam).Tại Cơ quan điều tra Q và C khai nhận đã mua số ma túy trên về tàng trữ để sử dụng dần.

Ngày 22/12/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tiến hành mở niêm phong, cân tịnh khối lượng và trưng cầu giám định tang vật gồm: 23 (hai mươi ba) mẫu chất màu trắng, dạng cục và dang bột gửi giám định ký hiệu lần lượt từ A1 đến A23 (Nghi là ma túy Heroin).

Tại Bản kết luận giám định số: 12/KL-KTHS, ngày 28/12/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H 23 (hai mươi ba) mẫu gửi giám định ký hiệu thứ tự lần lượt từ A1 đến A23 là ma túy, loại Hêrôin, có tổng khối lượng là 5,569g (năm phẩy năm trăm sáu mươi chín gam).

Bản cáo trạng số: 22/CT-VKS-VX ngày 15/5/2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H đã truy tố bị cáo Đỗ Hồng Q và bị cáo HOÀNG VĂN C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Đỗ Hồng Q và bị cáo HOÀNG VĂN C đã thừa nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, lời khai của người làm chứng vật chứng thu giữ và các tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

- Người làm chứng bà Nông Thị N trình bày không biết việc con trai là bị cáo Q nghiện ma túy vì bị cáo Q thường xuyên vắng nhà. Việc bị cáo Q mua ma túy về nhà sử dụng bà cũng không hề biết, chỉ khi lực lượng chức năng đến làm việc bà N mới biết bị cáo Q mang ma túy về nhà sử dụng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Hồng Q và bị cáo HOÀNG VĂN C theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử

Tuyên bố bị cáo Đỗ Hồng Q, bị cáo HOÀNG VĂN C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 38, Điều 58, điểm s khoản 1 Điều 51;điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đỗ Hồng Q từ 06 năm đến 07 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/12/2022).

Hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, Điều 38, Điều 58,điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo HOÀNG VĂN C từ 05 năm đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/12/2022).

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: bị cáo Q là lao động tự do, không có thu nhập ổn định đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là

3

hình phạt tiền đối với bị cáo Q đối với bị cáo C là người có thu nhập ổn định, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo C phải chịu hình phạt bổ sung là hình phạt tiền 5.000.000đ theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xửgiải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị cáoĐỗ Hồng Q và bị cáo Hoàng Văn C nhất trí với bản cáo trạng, không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo Đỗ Hồng Q và bị cáo Hoàng Văn C thực hiện quyền nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo nhận thức được việc làm của các bị cáo là vi phạm pháp luật, các bị cáo xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình và trở thành công dân tốt cho xã hội.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX tiếp tục xét xử vụ án.

[3]Căn cứ định tội, định khung hình phạt: Quá trình điều tra và tại phiên tòaBị cáo Đỗ Hồng Q và bị cáo Hoàng Văn C đã khai nhận: Ngày 21/12/2022, bị cáo Đỗ Hồng Q đã rủ bị cáo Hoàng Văn C đã sang Lào C chơi và sau khi Q tìm được chỗ mua ma túy rẻ, Q đã nói chuyện với C về chỗ có ma túy rẻ bán, cả hai bị cáo cùng thống nhất mua ma túy về sử dụng và bị cáo Q là người đã mua được ma túy (heroine)của người đàn ông không quen biết, mới gặp lần đầu trên đường, tại khu vực cổng trạm dừng nghỉ của nhà xe Quang Khải thuộc địa phận thôn Giàng Thàng, xã Đồng Tuyển, thành phố Lào C, tỉnh Lào C với giá là 100.000đ (một trăm nghìn đồng)/01 tép, Q mua 23 (hai mươi ba) tép, Q bỏ ra 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng) tiền cá nhân trả trước. Sau khi mua xong, Q cầm lấy ma túy và quay lại xe đưa cho C cất giữ trong người. Sau khi mua được ma túy Q và C đi đến một nhà nghỉ tại trung tâm thành phố Lào C (không xác định được tên nhà nghỉ và địa chỉ) rồi ngủ ở đó một đêm đến sáng ngày 22/12/2022 thì cùng nhau đi về nhà của Q tại tổ 17, thị trấn Vị Xuyên, huyện V, tỉnh H. Cả hai trốn vào trong phòng ngủ

4

của Q để lấy ma túy đã mua được ra chia nhau sử dụng bị lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ 23 (hai mươi ba) gói ma túy loại Heroine. Tại Bản kết luận giám định số: 12/KL-KTHS, ngày 28/12/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H 23 mẫu gửi giám định ký hiệu thứ tự lần lượt từ A1 đến A23 là ma túy, loại Hêrôin, có tổng khối lượng là 5,569g (năm phẩy năm trăm sáu mươi chín gam).Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra cũng như phù hợp với biên bản sự việc, biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong và cân tịnh, biên bản mở niêm phong và giao nhận đối tượng giám định, kết luận giám định, biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu cùng những chứng cứ, tài liệu đã được thu thập, phản ánh trong hồ sơ và được thẩm tra xác minh tại phiên toà. Như vậy, có đủ cơ sở để HĐXX kết luận bị cáoĐỗ Hồng Q và bị cáo Hoàng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền và thống nhất quản lý của Nhà nước đối với chất gây nghiện, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện nên hành vi phạm tội của bị cáo phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

[5] Xét vai trò của từng bị cáo: Bị cáo Đỗ Hồng Q là người rủ rê, khởi xướng việc rủ C đi Lào C chơi, tự thực hiện hành vi bỏ tiền ra mua ma túy (heroine) về rồi cùng với C sử dụng. Bản thân bị cáo đã có 02 tiền án: 01 tiền án về tội cố ý làm hư hỏng tài sản năm 2020 bị TAND huyện V xử phạt hình phạt tiền, số tiền 10.000.000đ; 01 tiền án về tội vận chuyển hàng cấm (pháo nổ) năm 2020 bị TAND tỉnh H xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 tháng, cả hai tiền án chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó là bài học, ăn năn hối cải mà sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương, bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng mức án nghiêm khắc, cách ly ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Bị cáo Hoàng Văn C tham gia với vai trò đồng phạm giản đơn, bị cáo là người đã có đủ năng lực hành vi, khi bị cáo Q nói có chỗ bán ma túy rẻ, bị cáo đã thống nhất cùng mua ma túy về sử dụng,. Mặc dù bị cáo không cùng bị cáo Q trực tiếp giao dịch mua ma túy nhưng bị cáo đã được Q nói chuyện về việc mua ma túy và bị cáo hoàn toàn đồng ý. Do vậy, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý và thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần thiết phải xử phạt bị cáo bằng mức án nghiêm khắc phù hợp với tính chất phạm tội của bị cáo, cách ly ra khỏi xã hội để giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo:

[8] Bị cáo Đỗ Hồng Q có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm

5

nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[9] Bị cáo Hoàng Văn C không vi phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[10] Đối với hình phạt bổ sung là phạt tiền, HĐXX thấy rằng: bị cáo Đỗ Hồng Q là lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt phạt tiền đối với bị cáo. Đối với bị cáo C là người có thu nhập ổn định, do vậy, buộc bị cáo C phải chịu hình phạt bổ sung là 5.000.000đ theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[11] Đối với Chẩu Ngọc G là người quen đã cho bị cáo Hoàng Văn C mượn xe để sử dụng vào việc đi lại khi tàng trữ ma túy để sử dụng là nằm ngoài ý muốn và hiểu biết của G. Vì trước khi mượn xe C đã cố ý nói dối là mượn xe đi ăn cưới tại Tuyên Q rồi tự ý sử dụng vào mục đích khác. Cơ quan điều tra đã làm rõ, G không biết việc C mượn xe sử dụng vào mục đích phạm tội nên không có căn cứ xem xét xử lý đối với Chẩu Ngọc G là phù hợp.

[12] Đối với Đỗ Hồng Q và Hoàng Văn C cùng nhau đi mua ma túy tại địa phận tỉnh Lào C rồi mang về nhà ở của bố mẹ Q để chia nhau cùng sử dụng là do cả hai là người nghiện ma túy, hai vợ chồng ông Đỗ Hoàng L và Nông Thị N không biết, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, chưa có căn cứ để xác định đồng phạm trong việc tàng trữ ma túy trong nhà nên tiếp tục điều tra nếu có căn cứ sẽ xử lý người liên quan theo quy định của pháp luật.

[13] Việc Đỗ Hồng Q và Hoàng Văn C khai nhận đã mua ma túy của người đàn ông không quen biết, mới gặp lần đầu trên đường, tại khu vực cổng trạm dừng nghỉ của nhà xe Quang Khải thuộc địa phận thôn Giàng Thàng, xã Đồng Tuyển, thành phố Lào C, tỉnh Lào C, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại địa điểm mà các bị cáo cung cấp, nhưng qua công tác quản lý cư trú của Cơ quan chức năng xác định không có người nào có đặc điểm như các bị cáo miêu tả đăng ký cư trú trên địa bàn, không có đủ căn cứ để xác định người bán và việc mua bán xảy ra, không có thông tin gì khác để xác minh nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.

[14]Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

[15] Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA-WAVE, màu xanh đen bạc, biển kiểm soát: 29V5 -104.23, xe đã qua sử dụng; Căn cứ kết quả điều tra xác định chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 29V5 – 104.23 do bị cáo Hoàng Văn C đã mượn rồi cùng Đỗ Hồng Q đi mua ma túy ngày 21/12/2022 thuộc quyền sở hữu của Chẩu Văn C, sinh năm: 1981, trú tại: thôn Riềng, xã Ngọc Minh, huyện V, tỉnh H giao cho Chẩu Ngọc G là con trai để làm phương tiện đi học, khi mượn xe C đã nói dối là đi ăn cưới ở Tuyên Q để mượn được xe, việc C sử dụng xe vào thực hiện hành vi phạm tội C và G không biết. Lời khai của C về chiếc xe phù hợp với tài liệu có

6

trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào đơn xin lại tài sản của Chẩu Văn C, ngày 22/02/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật.

[16] Vật chứng vụ án gồm: 01 Phong bì niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ: “Các vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”. Mặt sau phong bì có đóng dấu của Công an huyện V, tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong; 01 (một ) Phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu lần lượt theo thứ tự từ A1 đến A23, kết luận 12/KL/KTHS”, mặt sau phong bì có 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong. Xét vật chứng là tang vật liên quan trực tiếp đến hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần tích thu tiêu hủy.

Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện V ngày 18/5/2023.

[17]Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH “Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Buộc bị cáo Đỗ Hồng Q và bị cáo HOÀNG VĂN C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[18] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[19] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V phù hợp với quy định của pháp luật được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT!ĐỊNH:!

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đỗ Hồng Q, Hoàng Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; Điều 38; Điều 58,điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Đỗ Hồng Q 06 ( sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/12/2022). Tạm giam bị cáo 45 ngày theo Quyết định tạm giam số: 26/2023/HSST-QĐTG ngày 29/6/2023.

- Áp dụng điểm g khoản 2, khoản 5 Điều 249; Điều 38; Điều 58; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 05(năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 22/12/2022). Tạm giam bị cáo 45 ngày theo Quyết định tạm giam số: 27/2023/HSST-QĐTG ngày 29/6/2023.

7

Buộc bị cáo Hoàng Văn C phải chịu5.000.000đ hình phạt bổ sung

3.Vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ gồm:

- 01 Phong bì niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi chữ: “Các vỏ bao gói và phong bì niêm phong cũ”. Mặt sau phong bì có đóng dấu của Công an huyện V, tỉnh H và chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong;

- 01 Phong bì màu trắng niêm phong kín, mặt trước phong bì ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định ký hiệu lần lượt theo thứ tự từ A1 đến A23, kết luận 12/KL/KTHS”, mặt sau phong bì có 02 (hai) hình dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Hà Giang và các chữ ký, chữ viết của thành phần tham gia niêm phong.

Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện V và Chi cục thi hành án dân sự huyện V ngày 18/5/2023.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 21; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Đỗ Hồng Q, Hoàng Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333; Điều 337 Bộ Luật tố tụng hình sự: Bị cáo Đỗ Hồng Q, Hoàng Văn C có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 29/6/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./. Nơi!nhận:

Cỡ chữ