vanban.org

Bản án 21/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Tuyên án 18/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn Đ phạm “Tội đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ số tiền: 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản …

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn Đ phạm “Tội đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VỊ THỦY
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HS-ST
Ngày: 18 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tua.

2. Bà Trần Thị Bé Ngọc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Điền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Lực - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2023/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 6 năm 2023 đối với:

Bị cáo Phạm Văn Đ, S ngày 25 tháng 10 năm 1990; nơi S: tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm Tê; chức vụ (đảng, chính quyền, đoàn thể): không; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Phạm Văn S và bà Trương Thị T; anh chị em ruột 03 người; có vợ là Nguyễn Bé D và 02 người con (lớn Sinh năm 2011, nhỏ Sinh năm 2014); tiền án: Không; có một tiền sự: Ngày 02/12/2021 bị Trưởng Công an xã Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (đá gà), theo Quyết định số 14/QĐ-XPVPHC, đến ngày 12/01/2022 chấp hành xong quyết định xử phạt; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Trần Ngọc S, Sinh năm 1994 (Vắng mặt).

2. Anh Danh Vũ H (Sal), Sinh năm 1996 (Vắng mặt).

3. Anh Nguyễn Thanh S (Lót), S ngày 17/7/2005 (Vắng mặt);

Cùng cư trú: Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh H.

Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Huyền T

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về phạm tội; biên bản về việc đánh bài ăn Ta bằng tiền; biên bản tạm giữ tài sản; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản ghi lời khai, bản tự khai, tờ cam kết; biên bản hỏi cung bị can và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 18/9/2022 gồm có: Phạm Văn Đ, Trần Ngọc S, Danh Vũ H và Nguyễn Thanh S đến quán cà phê của chị Nguyễn Thị Huyền T, thuộc ấp 02, xã V, huyện T, tỉnh H để uống cà phê, sau đó cùng nhau đánh bạc ăn Ta bằng tiền, qua hình thức đánh bài cào 03 lá, loại bài tây 52 lá, tính điểm (còn gọi là nút), mỗi bàn ăn Ta từ 10.000đ đến 20.000đ gồm một tụ cái và 03 tụ con, thoả Tận làm cái xoay vòng, mỗi người làm cái 03 bàn rồi đến người khác. Đến khoản 20 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã Vị Thủy, huyện Vị Thủy kiểm tra, bắt quả tang, T giữ vật chứng gồm: 4.440.000đ, hai bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra, chứng minh được số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau:

- Phạm Văn Đ mang theo 820.000đ sử dụng vào mục đích đánh bạc, không nhớ thắng hay Ta.

- Trần Ngọc S mang theo 1.000.000đ, sử dụng 900.000đ vào mục đích đánh bạc, không nhớ thắng hay Ta.

- Danh Vũ H mang theo 900.000đ và sử dụng vào mục đích đánh bạc, không nhớ thắng hay Ta.

- Nguyễn Thanh S mang theo 900.000đ sử dụng vào mục đích đánh bạc, không nhớ thắng hay Ta.

Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc: 3.520.000đ.

Quá trình điều tra, xác minh đã chứng minh được: Vào ngày 02/12/2021, Phạm Văn Đ đã bị Công an xã Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc (đá gà ăn tiền), chấp hành xong quyết định ngày 12/01/2022.

Các đối tượng: Trần Ngọc S, Danh Vũ H và Nguyễn Thanh S, đều chưa có tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, nên Công an huyện Vị Thủy xử phạt vi phạm hành chính.

Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKS-HVT, ngày 11 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang đã truy tố bị cáo: Phạm Văn Đ về “Tội đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).

Quá trình điều tra, truy tố: Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến gì về Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang; tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn Đ đã thừa nhận hành vi đánh bạc trái phép, với mục đích ăn Ta bằng tiền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phạm Văn Đ là đủ yếu tố cấu thành “Tội đánh bạc”. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đã đề nghị Hội đồng xét xử;

Áp dụng: khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 32, 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù.

Vật chứng của vụ án, đề nghị tịch T, tiêu hủy: Hai bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng;

Tịch T nộp vào ngân sách nhà nước số tiền: 4.440.000đ.

Trả lại cho Trần Ngọc S 100.000đ.

Vật chứng Cơ quan Điều tra trả lại cho chủ sở hữu nên không xử lý.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đều vắng mặt.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của: Cơ quan điều tra huyện Vị Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục: Đối với Trần Ngọc S, Danh Vũ H và Nguyễn Thanh S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin vắng mặt, trước đó họ đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt.

[3] Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử thì chị Nguyễn Thị Huyền T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, chị Tkhông có quyền lợi, nghĩa vụ gì trong vụ án nên Toà án xác định lại chị Tchỉ là người làm chứng trong vụ án; chị Tcó đơn xin vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt.

[4] Về tội danh:

[4.1] Bị cáo Phạm Văn Đ là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Theo biên bản tiếp nhận nguồn tin về phạm tội; biên bản về việc đánh bài ăn Ta bằng tiền; biên bản tạm giữ tài sản; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản ghi lời khai, bản tự khai, tờ cam kết; biên bản hỏi cung bị can và diễn biến tại phiên tòa, đã có căn cứ để chứng minh: Vào khoảng 19 giờ 30 đến 20 giờ ngày 18/9/2022, tại nhà chị Nguyễn Thị Huyền T, Tộc Ấp A, xã T, huyện V, tỉnh H, bị cáo: Phạm Văn Đ cùng với Trần Ngọc S, Danh Vũ H và Nguyễn Thanh S đã thực hiện hành vi đánh bạc ăn Ta bằng tiền, dưới hình thức đánh bài cào 03 lá, gồm một tụ cái và từ 03 tụ con, mỗi tụ đặt từ 10.000đồng đến 20.000đồng, mỗi người làm cái 03 bàn và làm cái xoay vòng; khi đang đánh bạc thì bị bắt quả tang. Tổng số tiền bị cáo Đ và Trần Ngọc S, Danh Vũ H và Nguyễn Thanh S dùng để đánh bạc bị T giữ là 4.440.000 đồng.

[4.2] Theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự, thì: “1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được Ta bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm,…”.

[4.3] Đối với bị cáo Phạm Văn Đ và những người cùng tham gia đánh bạc, tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc dưới 5.000.000đ; trước đó, vào ngày 02/12/2021 bị cáo Đ đã thực hiện hành vi đánh bạc (đá gà ăn tiền), nên bị Trưởng Công an xã Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang ra quyết định số 14/QĐ-XPVPHC, xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000đ, nộp phạt xong ngày 12/01/2022.

[4.4] Đến ngày 18/9/2022 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, mục đích ăn Ta bằng tiền; bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc bị nghiêm cấm, xâm phạm đến trật tự công cộng, hậu quả bị cáo gây ra làm ảnh hưởng đế an ninh trật tự trên địa bàn. Theo khoản 1 Điều 7 của Luật Xử lý vi phạm hành chính thì bị cáo chưa hết thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Như vậy, hành vi đánh bạc do bị cáo Phạm Văn Đ thực hiện, đã thỏa mãn các điều kiện về “Tội đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang truy tố bị cáo về “Tội đánh bạc”, là có căn cứ.

[5] Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Tòa án căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[6] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu và Tộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc không lớn; trong thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật, chấp hành tốt quy định của nơi cư trú, nên cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Như đề nghị của Kiểm sát viên đề xuất là có căn cứ.

[8] Xét thấy mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị là nghiêm khắc; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không cần thiết cách ly bị cáo một thời gian nhất định, nên áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa.

[9] Hành vi đánh bạc của Trần Ngọc S, Danh Vũ H và Nguyễn Thanh S. Do chưa đủ điều kiện để xử lý hình sự, nên Công an huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nên không xử lý.

[10] Vật chứng của vụ án:

[10.1] Số tiền dùng vào việc đánh bạc tổng cộng: 4.440.000đ. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khỏan 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch T, nộp ngân sách Nhà nước. Theo Lệnh nhập kho vật chứng và Biên bản giao nhận tài sản giữa Cơ quan Điều tra với Kho bạc Nhà nước thì tổng số tiền là 4.540.000đ (trong đó: 100.000đ của Trần Ngọc S bị tạm giữ).

[10.2] Hai bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch T, tiêu hủy.

[10.3] Vật chứng không liên quan đến vụ án, đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu, nên không xử lý.

[10.4] Số tiền 100.000đ anh Trần Ngọc S không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên trả lại cho anh Sang.

[10] Vào ngày 05/7/2023, bị cáo Phạm Văn Đ có đơn yêu cầu nộp tiền đảm bảo hình phạt tiền là 10.000.000đ; theo Biên lai T tiền số 0001301 ngày 06/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang, số tiền T của bị cáo là 10.000.000d (Mười triệu đồng). Do đó, đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy tiếp tục tạm giữ để xử lý.

[11] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, buộc bị cáo phải chịu án phí.

[12] Quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i và điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, các Điều 32, 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 292, 293, 298, 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo: Phạm Văn Đ phạm “Tội đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ số tiền: 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

2.1. Tịch T nộp ngân sách nhà nước số tiền: 4.440.000đ (Bốn triệu bốn trăm bốn mươi ngàn đồng).

2.2. Trả lại cho anh Trần Ngọc S 100.000đ (Một trăm ngàn đồng).

(Theo biên bản giao nhận tài sản số 117/2023/BBBG-KBVT ngày 17/4/2023 giữa Kho bạc Nhà nước huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang với Cơ quan cảnh sát điều tra huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang).

2.3. Tịch T, tiêu hủy gồm: Hai bộ bài tú lơ khơ loại 52 lá đã sử dụng;

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/5/2023 giữa đại diện Cơ quan điều tra huyện Vị Thủy với đại diện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang).

3. Đề nghị Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tiếp tục tạm giữ số tiền: 10.000.000đ (Mười triệu đồng) của bị cáo Phạm Văn Đ, theo Biên lai T tiền số 0001301 ngày 06/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang để xử lý trong quá trình thi hành án.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức T, miễn, giảm, T, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Văn Đ phải nộp số tiền là: 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM-HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ