- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn Tình + ĐP Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T và bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “”Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HS-ST Ngày: 08-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỨ KỲ, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Phan và ông Chu Quang Liêm
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Khoa - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2023/HSST ngày 06 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 22 /2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Hà Văn T, sinh năm 1982
Nơi cƣ trú: thôn Ngọc L, xã Tân K, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Hà Văn P và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Nguyễn Thị Dvà 03 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06 ngày 19/11/2015 của Công an huyện Tứ Kỳ đối với Hà Văn T về hành vi Đánh bạc trái phép, mức phạt 1.000.000 đồng. Tỉnh nộp phạt ngày 20/11/2015.
- Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 2677 ngày 04/8/2020 của Uỷ ban nhân dân huyện Tứ Kỳ đối với Hà Văn T về hành vi Đánh bạc trái phép, mức phạt 9.000.000 đồng. Tỉnh nộp phạt ngày 07/8/2020
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa
2. Nguyễn Công T, sinh năm 1970
Nơi cƣ trú: thôn Ngọc L, xã Tân K, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Công R (đã chết) và bà Nguyễn Thị Y; có vợ là Nguyễn Thị Xvà 03 con, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1984
Địa chỉ: thôn Nghi K, xã Tân K, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Duy Đ, ông Nguyễn Đình B, anh Hà Văn Q, ông Nguyễn Duy T
Tại phiên tòa có mặt bị cáo Tỉnh, Thực. Vắng mặt ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những ngƣời làm chứng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hà Văn T mở quán bán hàng tạp hóa tại nhà ở thôn Ngọc L, xã Tân K, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng. Do thu nhập bấp bênh nên Tỉnh đã dùng quán làm địa điểm ghi bán số lô, số đề thu lời bất chính. Việc thanh toán thắng thua đƣợc thực hiện sau khi so sánh với các giải thƣởng của kết quả sổ số kiến thiết Miền Bắc đƣợc mở thƣởng vào 18 giờ 30 hàng ngày, những ngƣời mua số lô, số đề của Tỉnh nếu trúng thƣởng sẽ đƣợc thanh toán vào ngày hôm sau cụ thể cách chơi nhƣ sau: Đề 02 số là số tự nhiên có 02 chữ số bất kỳ do ngƣời mua chọn, nếu 02 số đó trùng với 02 số cuối cùng của giải đặc biệt thì ngƣời mua sẽ thắng và đƣợc số tiền gấp 70 lần số tiền mua đề; nếu không trùng thì mất số tiền mua. Đề 3 số (thường gọi là “ba càng”) là số tự nhiên có 3 chữ số bất kỳ do ngƣời mua chọn, nếu 3 chữ số đó trùng với 3 số cuối cùng của giải đặc biệt thì ngƣời mua sẽ thắng và đƣợc số tiền gấp 400 lần số tiền mua; nếu không trùng thì mất số tiền mua. Lô thƣờng là số tự nhiên có 2 chữ số; ngƣời mua sẽ mua theo điểm, mỗi điểm tƣơng ứng 20.000 đồng. Mua bao nhiêu điểm thì nhân số điểm với 20.000 đồng. Nếu kết quả các giải (từ giải đặc biệt đến giải 7) có 2 số cuối trùng với số ngƣời mua chọn thì ngƣời mua thắng và đƣợc số tiền gấp 3,5 lần số tiền mua (nếu trùng 1 lần, hay còn gọi là “1 nháy”); nếu trùng nhiều lần thì sẽ đƣợc số tiền là: số lần trùng X (nhân) 3,5 X (nhân) số tiền mua; nếu không trùng thì mất số tiền mua. Lô xiên 2 tức là lô có 2 cặp số do ngƣời mua chọn, đƣợc tính theo số tiền mua. Nếu kết quả các giải (tính 2 số cuối cùng) có 2 cặp số trùng với cặp số ngƣời mua chọn thì thắng và đƣợc số tiền gấp 10 lần số tiền đã mua; nếu không trùng thì mất số tiền mua. Lô xiên 3 tức là lô có 3 cặp số do ngƣời mua chọn, đƣợc tính theo số tiền mua. Nếu kết quả các giải (tính 2 số cuối cùng) có 3 cặp số trùng với cặp số ngƣời mua đã chọn thì thắng và đƣợc số tiền gấp 40 lần số tiền đã mua; nếu không trùng thì mất số tiền mua. Ngày 14/12/2022, những ngƣời trực tiếp đến nhà Tỉnh mua số lô, số đề nhƣ sau:
Nguyễn Công T, sinh năm 1970, trú quán: Thôn Ngọc Lâm, xã Tân Kỳ mua của Tỉnh các số lô 76, 78, 08, 80, 12, 21, 18, 81, 34, 43, 24, 42, 11, 66, 72, 97, 68, 86 mỗi số lô 20 điểm, mỗi điểm tƣơng ứng 20.000 đồng, tổng là 7.200.000 đồng. Thực đã trả tiền cho Tỉnh.
Anh Nguyễn Duy Đợi, sinh năm 1978, trú quán: Thôn Ngọc Lâm, xã Tân Kỳ mua của Tỉnh số lô 27 với 25 điểm, mỗi điểm tƣơng ứng 20.000 đồng, tổng là 500.000 đồng. Đợi chƣa thanh toán tiền cho Tỉnh.
Anh Nguyễn Đình Bẩy, sinh năm 1962, trú quán: Thôn Nghi Khê, xã Tân Kỳ mua của Tỉnh số lô 81 với 20 điểm, mỗi điểm tƣơng ứng 20.000 đồng; mua số lô xiên hai (18, 31) với số tiền 100.000 đồng, tổng là 500.000 đồng. Bẩy đã trả tiền cho Tỉnh.
Anh Hà Văn Quý, sinh năm 1978, trú quán: Thôn Ngọc Lâm, xã Tân Kỳ mua của Tỉnh các số đề 46, 64, 14, 41, mỗi số đề 10.000 đồng, tổng là 40.000 đồng. Quý đã trả tiền cho Tỉnh.
Anh Nguyễn Duy Thƣớng, sinh năm 1961, trú quán: Thôn Ngọc Lâm, xã Tân Kỳ mua của Tỉnh các số lô 11, 66, mỗi số lô 5 điểm, mỗi điểm tƣơng ứng 20.000 đồng, tổng là 200.000 đồng. Thƣớng đã trả tiền cho Tỉnh.
Anh Nguyễn Hữu V, sinh năm 1984, trú quán: Thôn Nghi Khê, xã Tân Kỳ mua của Tỉnh số lô 10 với 125 điểm, mỗi điểm tƣơng ứng 20.000 đồng, tổng là 2.500.000 đồng. Việt đã trả tiền cho Tỉnh số tiền trên. Sau khi mua số lô, Việt tiếp tục mua số đề 20 với số tiền 300.000 đồng thì Tỉnh đồng ý. Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 14/12/2022, khi Tỉnh đang ghi số đề bán cho anh Việt thì bị lực lƣợng Công an huyện tứ kỳ kiểm tra, phát hiện lập biên bản vụ việc, thu giữ cùng vật chứng.
Bản Kết luận giám định số 17 ngày 07/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Số tiền 11.440.000 đồng là tiền thật.
Kết quả điều tra xác định tổng số tiền Tỉnh đã bán số lô, số đề cho những ngƣời khác là 11.240.000 đồng. Tổng số tiền Thực dùng vào việc đánh bạc trái phép, hình thức mua số lô, số đề của Tỉnh là 7.200.000 đồng nên Tỉnh, Thực phải chịu trách nhiệm hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSTK ngày 04/4/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ truy tố bị cáo Hà Văn T, Nguyễn Công T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự
Tại phiên toà: VKSND huyện Tứ Kỳ giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Hà Văn T, Nguyễn Công T phạm tội “”Đánh bạc”; Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 của BLHS, xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 10- 12 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 20 - 24 tháng. Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T từ 8 - 10 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách từ 16 - 20 tháng. Giao các bị cáo cho UBND xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền mỗi bị cáo từ 10 - 15 triệu đồng nộp ngân sách nhà nƣớc; Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí theo quy định pháp luật.
- Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố và luận tội của VKSND huyện Tứ Kỳ đối với các bị cáo là đúng và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo đƣợc cải tạo tại địa phƣơng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tứ Kỳ, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc, các biên bản làm việc giải trình, vật chứng thu giữ, lời khai của những ngƣời liên quan và các tài liệu chứng cứ khác đã đƣợc thu thập có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 14/12/2022, tại nhà ở của mình thôn Ngọc L, xã Tân K, huyện Tứ K, tỉnh Hải Dƣơng, Hà Văn T có hành vi đánh bạc trái phép, hình thức bán số lô số đề cho Nguyễn Công T với số tiền 7.200.000 đồng, cho Nguyễn Duy Đợi với số tiền 500.000 đồng, cho Nguyễn Đình Bẩy với số tiền 500.000 đồng, cho Hà Văn Quý với số tiền 40.000 đồng, cho Nguyễn Duy Thƣớng với số tiền 200.000 đồng, cho Nguyễn Hữu V với số tiền 2.800.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tứ Kỳ phát hiện lập biên bản vụ việc. Tổng số tiền Hà Văn T dùng vào việc đánh bạc trái phép là 11.240.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Công T dùng vào việc đánh bạc trái phép là 7.200.000 đồng.
Các bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức đƣợc hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật song vẫn cố ý thực hiện, nên hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Do đó cáo trạng của VKSND huyện Tứ Kỳ truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự an toàn công cộng, làm mất trật tự trị an xã hội ở địa phƣơng. Do vậy, cần xem xét xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ, các bị cáo thống nhất cùng nhau đánh bạc, bị cáo Tỉnh trực tiếp bán số lô, số đề cho nhiều ngƣời trong đó có Thực nên giữ vai trò thực hành tích cực. Bị cáo Thực mua số lô, số đề của Tỉnh nên giữ vai trò là ngƣời thực hành.
Xét về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo Hà Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS. Đối với bị cáo Nguyễn Công T, theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện năm 1991 bị cáo từng bị khởi tố về tội cố ý gây thƣơng tích, tuy nhiên quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhƣng không tìm thấy tài liệu, dữ liệu liên quan. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận năm 1991 bị TAND huyện Tứ Lộc xử phạt 01 tháng tù cho hƣởng án treo về tội cố ý gây thƣơng tích, bị cáo đã chấp hành xong về hình phạt và các quyết định khác của bản án. Do đó, theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo nên xác định bị cáo không có tiền án và không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng nên các bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; Các bị cáo có nơi cƣ trú rõ ràng, hƣởng nhiều tình tiết giảm nhẹ nên không cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội mà cho các bị cáo đƣợc hƣởng án treo cải tạo tại địa phƣơng cũng đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân tốt biết chấp hành pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đánh bạc nhằm mục đích thu lợi bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo nhƣ đề nghị của đại diện VKS tại phiên tòa là phù hợp.
Về xử lý vật chứng: Đối với các dụng cụ bị cáo Tỉnh dùng vào việc ghi số lô số đề do không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy, đối với số tiền 11.440.000đ gồm 11.240.000đ phục vụ vào việc đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách, đối với số tiền 200.000đ của anh Nguyễn Hữu V không dùng vào mục đích đánh bạc nên trả lại cho anh Việt.
Trong vụ án này còn có hành vi mua số lô, số đề của Nguyễn Duy Đợi, Nguyễn Duy Thƣớng, Nguyễn Đình Bẩy, Nguyễn Hữu V. Tuy nhiên số tiền dùng mua số lô, số đề dƣới 5.000.000 đồng, những ngƣời này chƣa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chƣa có tiền án về tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc nên ngày 28/02/2023, Công an huyện Tứ Kỳ ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đợi, Thƣớng, Bẩy, Việt là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 1, 2 , 3 Điều 65 của BLHS đối với bị cáo Hà Văn T và bị cáo Nguyễn Công T;
1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn T và bị cáo Nguyễn Công T phạm tội “”Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Hà Văn T 12 (mƣời hai) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mƣơi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Công T 09 (chín) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 18 (mƣời tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Hà Văn T và bị cáo Nguyễn Công T cho UBND xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
2. Về hình phạt bổ sung:
- Phạt tiền bị cáo Hà Văn T và bị cáo Nguyễn Công T mỗi bị cáo 10.000.000đ (mƣời triệu đồng) nộp ngân sách nhà nƣớc.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b Điều 47 BLHS; điểm a, b, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy kích thƣớc (5,4 x 4) cm đƣợc làm từ vỏ hộp thuốc lá Thăng Long; 01 tờ giấy dòng kẻ ngang kích thƣớc (16,7 x 12,2) cm ghi các số lô, số đề; 01 bút bi màu đen; 01 chiếc kéo bằng kim loại có vỏ tay cầm bằng nhựa mầu đỏ đen
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nƣớc 11.240.000đ (Mười một triệu hai trăm bốn mươi nghìn đồng). Trả lại anh Nguyễn Hữu V số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Tứ Kỳ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ ngày 27/4/2023 ).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thƣờng vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Bị cáo Hà Văn T và bị cáo Nguyễn Công T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mƣời lăm ngày), kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 08/5/2023. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng -VKSND huyện Tứ Kỳ; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan T.H.A. HS - Công an huyện Tứ Kỳ; - Chi cục THADS huyện Tứ Kỳ; - Hồ sơ nghiệp vụ- Công an huyện Tứ Kỳ; - UBND xã Tân Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dƣơng; - Bị cáo; - Lƣu hồ sơ vụ án; THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Văn Chìu Nguyễn Thanh Hải | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thành THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Thành |