- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trình Văn K phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trình Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HS-ST Ngày 18-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Văn Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Thành.
Bà Lục Thị Tuyên.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Noọng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Thư ký Tòa án tại điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện: Bà La Thị Huệ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến kết nối với Nhà tạm giữ Công an huyện vụ án Hình sự thụ lý số 23/2023/TLST-HS ngày 23/3/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2023 đối với bị cáo:
Trình Văn K, tên gọi khác: không. Sinh ngày 2x tháng 02 năm 199x tại huyện T, tỉnh Cao Bằng.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn 8/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trình Văn C và bà Triệu Thị T; Vợ: Triệu Thị V (đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 201x. Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 07/9/2020 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, theo Quyết định số 49/2020/QĐ-XLHC ngày 07/9/2020 của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, Thành Phố Hà Nội.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng từ ngày 13/11/2022 đến nay. Có mặt.
Người làm chứng:
- Mạc Văn N, sinh năm 198x.
- Mạc Văn D, sinh năm 199x.
- Hoàng Văn N, sinh năm 199x.
Cùng nơi cư trú: Xóm H, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng.
- Nhan Hà Đ, sinh năm 199x. Nơi cư trú: Xóm Đ, xã C, huyện T, tỉnh Cao Bằng. (Tất cả những người làm chứng vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 30 ngày 13/11/2022, tổ công tác Đồn Biên phòng Đàm Thủy chủ trì, phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Lũng Phiắc, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng phát hiện tại nhà ở của Trình Văn K có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, khi thấy lực lượng chức năng, K ném từ tay phải lên quạt nhựa trên tường nhà 01 bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Gold Lion, bên trong có chứa 12 gói nhỏ bằng giấy bạc màu vàng đều chứa chất bột màu trắng. Khai thác nhanh Trình Văn K khai 12 gói trên là ma túy (Heroine) của K. Mục đích mua về để sử dụng và bán kiếm lời. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số vật chứng trên theo đúng quy định. Ngoài ra, còn tạm giữ của Trình Văn K số tiền 2.200.000 đồng.
Cùng ngày 13/11/2022, Đồn Biên phòng Đàm Thủy tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trình Văn K; kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan đến vụ án. Đồng thời chuyển toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 15/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng là 0,34g (không phẩy ba tư gam) và lấy mẫu gửi giám định. Tại Kết luận giám định số 387/KL-KTHS ngày 21/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine”.
Tại Cơ quan điều tra, Trình Văn K khai: Khoảng 07 giờ ngày 13/11/2022, K đến khu vực mốc 818 thuộc xóm Lũng Phiắc, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng tìm mua ma túy. Khi đến gần mốc 818, K thấy một người đàn ông đang chăn bò tại phần đất của lãnh thổ Trung Quốc. K hỏi và mua ma túy với người này với số tiền 1.000.000 đồng để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. K có hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ tháng 10 năm 2022 đến khi bị bắt. Thời gian bán ma tuý không cố định trong ngày. Địa điểm bán ma tuý là tại nhà của bị cáo. Trước khi bị bắt, K nhớ đã bán ma tuý cho những người sau:
Mạc Văn N 01 lần 01 gói với số tiền 100.000 đồng vào khoảng 13 giờ ngày 13/11/2022; Hoàng Văn N 02 lần, mỗi lần 01 gói với số tiền 100.000 đồng. Lần đầu vào khoảng 14 giờ, lần thứ hai vào khoảng 16 giờ cùng ngày 13/11/2022. Nhan Hà Đ 01 lần 01 gói với số tiền 100.000 đồng vào khoảng 17 giờ ngày 13/11/2022 và Mạc Văn D 01 lần 01 gói với số tiền 100.000 đồng vào khoảng 18 giờ ngày 13/11/2022. Ngoài ra, Trình Văn K còn bán ma túy cho nhiều người khác nhưng không biết tên, địa chỉ.
Về số tiền 2.200.000 đồng tạm giữ xác định được: 500.000đ do bán ma túy mà có, còn lại 1.700.000đ bị cáo làm thuê có được.
Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSTK ngày 21/3/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng đã truy tố Trình Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai: Năm 2020 bản thân đã từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, nhưng sau khi chấp hành xong bị cáo tái nghiện nên đã mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời từ khoảng tháng 10 năm 2022. Nguồn gốc số ma túy thu giữ là do bị cáo mua với một người đàn ông Trung Quốc không biết tên và địa chỉ ở khu vực biên giới vào sáng ngày 13/11/2022 với số tiền 1.000.000đ. Việc mua bán này chỉ có bị cáo và người đàn ông Trung Quốc biết, không có ai chứng kiến hoặc tài liệu chứng minh. Trước khi bị bắt bị cáo được bán ma túy cho nhiều người như Cáo trạng đã truy tố và biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trình Văn K từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù. Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số heroine thu giữ; Tịch thu số tiền 500.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có nộp vào ngân sách Nhà nước; Số tiền 1.700.000đ không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án; Buộc bị cáo chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với các lời khai tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, số lần, số tiền mua bán ma túy, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có cơ sở để kết luận: Hồi 19 giờ 30 ngày 13/11/2022, tổ công tác Đồn Biên phòng Đàm Thủy chủ trì, phối hợp với Phòng phòng chống ma túy và tội phạm, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Cao Bằng làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Lũng Phiắc, xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng phát hiện Trình Văn K đang tàng trữ trái phép 12 gói nhỏ ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,34g, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Trước khi bị bắt, bị cáo đã bán ma túy cho những người sau: Mạc Văn N 01 lần 01 gói; Hoàng Văn N 02 lần, mỗi lần 01 gói; Nhan Hà Đ 01 lần 01 gói và Mạc Văn D 01 lần 01 gói. Ngoài ra, Trình Văn K còn bán ma túy cho nhiều người khác nhưng không biết tên, địa chỉ.
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo biết việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng sức khỏe của con người và là nguyên nhân tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình khác nhưng vì lợi nhuận nên bất chấp thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã bán ma túy 05 lần cho 04 người, thu được số tiền 500.000đ. Như vậy, bị cáo bán ma túy nhiều lần nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, là tình tiết định khung được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi phạm tội bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên bị cáo có một tiền sự về việc bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng biên giới, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được xem xét khi lượng hình.
Căn cứ tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt mà Kiểm sát viên đưa ra là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Số Heroine thu giữ là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Số tiền 500.000đ do phạm tội mà có nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Số tiền 1.700.000đ không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người sử dụng ma túy, không có công việc thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.
. Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Bị cáo khai được mua với một người đàn ông Trung Quốc không biết tên và địa chỉ. Do đó Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện không có căn cứ xử lý đối với người này là đúng quy định của pháp luật.
. Về án phí: Bị cáo là người bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trình Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt Trình Văn K 07 (bẩy) năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày 13/11/2022.
3. Về vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong, mặt trước ghi “Vật chứng vụ án Trình Văn K xảy ra ngày 13/11/2022”.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000đ.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.700.000đ
Xác nhận số vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trình Văn K phải chịu 200.000đ, tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSND tỉnh; - Trại tạm giam CA tỉnh; - VKSND huyện; - Công an huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Đàm Thủy (bằng TB); - Bị cáo; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Nông Văn Tùng |