- Tranh chấp gì? án hình sự — "A J - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo A J phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Bị cáo A Th phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI TỈNH KON TUM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HS-ST Ngày: 19-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC HỒI, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Kim Anh và ông Đinh Thế Hồi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi tham gia phiên tòa: Ông Đàm Công Tư - Kiểm sát viên.
Ngày 19-7-2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/HS-ST ngày 24-5-2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HS, ngày 05-7-2023, đối với các bị cáo:
1. A J, sinh ngày 09/3/2004 tại Kon Tum; trú tại: Thôn Giang Lố , xã Sa L, huyện Ngọc H, tỉnh Kon T; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Xơ Đăng; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông A Y, sinh năm 1979 và bà Y V, sinh năm 1977. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2023 đến nay. (Có mặt).
2. A Th, sinh ngày 04/10/2003 tại Kon Tum; trú tại: Thôn Giang Lố, xã Sa L, huyện Ngọc H, tỉnh Kon T; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Xơ Đăng; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông A Ch, sinh năm 1968 và bà Y S, sinh năm 1972. Gia đình bị cáo có 05 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17-02-2023 đến nay (Có mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông A Ch, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Thôn Giang Lố, xã Sa L, huyện Ngọc H, tỉnh Kon T (Có mặt).
- Người làm chứng:
+ Anh A B, sinh năm 2005;
Địa chỉ: Thôn Giang Lố , xã Sa L, huyện Ngọc H, tỉnh Kon T(Vắng mặt-có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
+ Anh A D, sinh năm 2006, người giám hộ cho A D là ông A B.
Cùng địa chỉ: Thôn Giang Lố , xã Sa L, huyện Ngọc H, tỉnh Kon Tum (Vắng mặt- có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
+ Anh A V, sinh năm 2002.
Địa chỉ: Thôn Giang Lố, xã Sa L, huyện Ngọc H, tỉnh Kon T (Vắng mặt-có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 50, ngày 16/02/2023, Công an huyện Ngọc H, Công an xã Sa L và Đội công tác địa bàn Đồn biên phòng Sa L lập tổ công tác tiến hành tuần tra phát hiện một số đối tượng đang ngồi tụ tập ven đường phía trước cửa hàng tạp hóa Lương (thôn Giang Lố 2, xã Sa Loong) có biểu hiện nghi vấn tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện trên nền bê tông giữa hai chân chỗ A J ngồi có 01 (một) gói ni lông trong suốt được hàn nhiệt kín, kích thước khoảng (1,2x2,5)cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (nghi là ma túy). A J khai nhận gói ni lông trên chứa ma túy đá, là của A J, do J mua của A Th với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) để sử dụng. Kiểm tra trong người A J phát hiện 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh - đen, đã qua sử dụng. A J khai nhận đã sử dụng điện thoại trên nhắn tin qua ứng dụng Face book Messenger với A Th để thoả thuận mua chất ma tuý.
Căn cứ lời khai của A J, Cơ quan điều tra đã triệu tập A Th (sinh năm 2003, cư trú tại thôn Giang Lố 2, xã Sa Loong, huyện Ngọc Hồi) để làm việc. Kết quả, A Th khai nhận vào tối ngày 16/02/2023 đã mua một gói ma tuý của một đối tượng tên Tr (không rõ nhân thân lai lịch) với giá 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) sau đó bán lại cho A J với giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).
Kết quả điều tra bị can A Th và A J khai nhận toàn bộ nội dung diễn biến hành vi phạm tội như sau: Khoảng 22 giờ 00 ngày 16/02/2023, A J nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma tuý nên đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh – đen, mở ứng dụng Face book Messenger nhắn tin cho A Th hỏi “có đi lấy hàng (tức là ma tuý đá) về chơi được không”. A Th biết có một người tên thường gọi là Trung ở thị trấn Plei Kần có bán ma tuý đá nên nhắn lại là “được”. A J nhắn tiếp “vậy lấy cho năm trăm”. A Th nghĩ sẽ thu lợi được một phần tiền khi đi mua ma tuý nên đồng ý và nhắn lại “đến cổng chào đưa tiền tao đi mua (tức là cổng chào thôn Giang Lố 2, xã Sa Loong)”. Sau đó cả hai xoá hết tin nhắn vừa trao đổi. Vì không có xe mô tô để đi nên A J rủ thêm A B và A D, sử dụng xe mô tô của A B để đi chơi (đi dạo). A B và A D không biết mục đích A J đi tìm gặp A Th mua chất ma tuý. Khi đến gần cổng chào thôn Giang Lố 2, xã Sa Loong thì A J xuống xe, còn A B và A D tiếp tục điều khiển xe mô tô đi chơi (đi mua trà sữa tại thôn Cao Sơn, xã Sa Loong). A J đi bộ đến gần cổng chào thôn Giang Lố 2, đứng đợi một lúc thì A Th điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER gắn biển kiểm soát 82E1 – 075.59 đến. A J đưa cho A Th số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). A Th nhận tiền rồi điều khiển xe mô tô đi đến thị trấn Plei Kần. Trên đường đi A Th vào một quán tạp hoá ven đường mua một thẻ cào mệnh giá 200.000 đồng để nạp vào trò chơi trực tuyến (game online). Số tiền 200.000 đồng này nằm trong số 500.000 đồng A Th vừa nhận của A J. A Th đến khu vực đường Trần Hưng Đạo đợi khoảng 15 phút thì gặp Trung đi bộ trên đường. A Th hỏi và mua được của Trung một gói ni lông chứa ma tuý đá với giá 300.000 đồng (phần còn lại trong số tiền nhận của A J). Sau đó, A Th điều khiển xe mô tô quay lại khu vực gần cổng chào thôn Giang Lố 2, xã Sa Loong và giao gói ma tuý trên cho A J rồi về nhà ngủ. A J cầm gói ma tuý mua được tiếp tục đi chơi cùng với A B và A D. Cả ba đến khu vực trước cửa hàng tạp hoá Lương (thôn Giang Lố 2, xã Sa Loong) thì ngồi phía trước cửa hàng tạp hoá nói chuyện. Khoảng 23 giờ 40 cùng ngày, thì A V đến ngồi chơi cùng cả nhóm. Đến khoảng 23 giờ 50 cùng ngày, khi Tổ công tác tuần tra qua khu vực trên thì A J hoảng sợ nên đã thả gói ma túy đang cầm trong tay trái xuống giữa hai chân chỗ A J đang ngồi. Tổ công tác đã kiểm tra, phát hiện gói ma túy trên và đưa người, vật chứng về trụ sở Công an xã Sa Loong để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với A J về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đồng thời tạm giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Tại kết luận giám định số 52/KL-KTHS, ngày 22/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,142 gam.
Tại Bản cáo trạng số: 15/CT-VKS- NH ngày 23-5-2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi truy tố A J về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; A Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo; biết ăn năn, hối cải.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố khẳng định việc truy tố đối với A J và A Th là có căn cứ, đúng pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố bị cáo A J phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; bị cáo A Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo A J mức án từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 ( Mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 17-02-2023).
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự; đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo A Th mức án từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 17-02-2023).
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo A J, A Th.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì dán kín chứa mẫu vật sau khi trích giám định được niêm phong, mặt trước có in nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 52/KL-KTHS”; mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ * CÔNG AN TỈNH KON TUM” và có các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 Plus, màu trắng – vàng – đồng, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng. Được niêm phong bằng cách bỏ vào phong bì bằng giấy, mặt trước có chữ “CÔNG AN TỈNH KON TUM - CÔNG AN HUYỆN NGỌC HỒI – NP01”, mặt sau được dán kín. Tại mép dán có chữ ký, ghi họ tên của những người có tên trong biên bản niêm phong và các hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh - đen, đã qua sử dụng. Được niêm phong bằng cách bỏ vào phong bì bằng giấy, mặt trước có chữ “CÔNG AN TỈNH KON TUM - CÔNG AN HUYỆN NGỌC HỒI – NP02”, mặt sau được dán kín. Tại mép dán có chữ ký, ghi họ tên của những người có tên trong biên bản niêm phong và các hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
- Buộc bị cáo A Th nộp sung quỹ nhà nước số tiền 200.000đồng là tiền thu lợi bất chính.
3. Về án phí: Đề nghị căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo A J, A Th phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ngọc Hồi và Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thẩm quyền các thủ tục tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, người làm chứng A D; A V; A B đều vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo A J, A Th khai nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum đã đề cập. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác cùng các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ 50, ngày 16/02/2023, tổ công tác Công an huyện Ngọc Hồi phối hợp với Đội công tác địa bàn Đồn biên phòng Sa Loong, trong quá trình tuần tra, kiểm soát thì phát hiện tại quán tạp hóa Lương thuộc Thôn Giang Lố 2, xã Sa Loong, có một số đối tượng đang ngồi tụ tập có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trên nền bê tông giữa hai chân chỗ A J ngồi có 01 gói ni lông trong suốt được hàn nhiệt kín, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. A J khai nhận gói ni lông trên chứa ma túy đá, là của A J, do J mua của A Th về để sử dụng.
Trước đó, khoảng 22h, ngày 16/02/2023, vì có ý định mua ma túy về sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu bản thân nên A J đã liên lạc với A Th hỏi để mua với giá 500.000đ được A Th đồng ý. A Th nhận tiền từ A J xong thì điều khiển xe mô tô đi đến thị trấn Plei Kần tìm mua ma túy. A Th sử dụng trước số tiền lời là 200.000đồng để mua một thẻ cào để nạp vào trò chơi trực tuyến. Số tiền còn lại 300.000đồng A Th mua được 01 gói ma túy từ một người tên Trung tại khu vực đường Trần Hưng Đạo, thị trấn Plei Kần. Sau đó, A Th điều khiển xe mô tô quay lại khu vực gần cổng chào thôn Giang Lố 2, xã Sa Loong và đưa gói ma tuý trên cho A J rồi về nhà ngủ.
Tại kết luận giám định số 52/KL-KTHS, ngày 22/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kon Tum kết luận: Mẫu chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,142 gam.
Tại thời điểm thực hiện hành vi tàng trữ số ma túy nêu trên của A J và hành vi A Th mua túy của người khác về bán lại cho A J nhằm kiếm tiền lời thì cả A J, A Th là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, hành vi cất giữ 01 gói ma túy của A J đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi bán ma túy của A Th đã phạm vào tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum truy tố các bị cáo theo các điều luật vừa nêu, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, thấy rằng: Hành vi của các bị cáo A J, A Th là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần xử phạt mức án nghiêm mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo.
Xét các tình tiết tăng nặng - giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo A J, A Th không phải chịu các quy định về tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giairm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải – đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà các bị cáo được hưởng. Ngoài ra, đối với A Th có ông A T (là ông nội của bị cáo) là liệt sỹ, được tặng Huân chương kháng chiến hạng 3 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, A Th có nhiều năm là học sinh có thành tích học tập tốt được tặng danh hiệu học sinh tiên tiến. Cả hai bị cáo đều là người đồng bào dân tộc thiểu số nên nhận thức có phần hạn chế.
Với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, tình tiết giảm nhẹ cùng nhân thân của bị cáo A J, A Th như đã phân tích, đánh giá ở trên, thấy rằng: Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục người phạm tội, đồng thời cũng nhằm để răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo A J, A Th không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Nguồn gốc gói ma túy mà A Th bán cho A J trong vụ án theo lời khai của A Th, là do bị cáo mua của 01 đối tượng tên Trung. Tuy nhiên, đến nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Trung, nên chưa đủ cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với người này.
Đối với ông A Ch là cha ruột của bị cáo A Th và là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu xanh – trắng, gắn biển kiểm soát 82E1 – 075.59, mà bị cáo A Th sử dụng khi phạm tội. Quá trình điều tra đã xác định ông A Chơl không biết và không có liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo A Th. Do đó không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự của ông A Chơl trong vụ án.
Đối với các anh A B; A D; A V mặc dù đi chơi cùng A J vào tối ngày 16/02/2023 nhưng không biết việc A J mua và tàng trữ trái phép chất ma tuý, không giúp sức gì cho hành vi phạm tội của A J. Do đó, không có cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự của A B, A D, A V trong vụ án.
Về vật chứng của vụ án: Ngoài gói ma túy, Cơ quan điều tra còn thu giữ 02 điện thoại di động, 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu xanh – trắng, gắn biển kiểm soát 82E1 – 075.59, đã qua sử dụng.
Xét thấy:
Số ma túy là vật chứng liên quan trực tiếp đến tội phạm và là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 Plus, màu trắng – vàng – đồng, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng của A Th và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh - đen, đã qua sử dụng của A J. Cả hai chiếc điện thoại này đều là phương tiện phạm tội, hiện còn giá trị sử dụng nên tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA EXCITER, màu xanh – trắng, gắn biển kiểm soát 82E1 – 075.59. Ngày 07/4/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là ông A Ch, nên HĐXX không đề cập.
Đối với số tiền 200.000đồng mà bị cáo A Th thu lợi bất chính từ việc bán ma túy cho A J, là tiền do phạm tội mà có nên cần bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo A J, A Th phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo A J phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Bị cáo A Th phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo A J 13 (Mười ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 17-02-2023).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo A J.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo A Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam (ngày 17-02-2023).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo A Th.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 7 Plus, màu trắng – vàng – đồng, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng. Được niêm phong bằng cách bỏ vào phong bì bằng giấy, mặt trước có chữ “CÔNG AN TỈNH KON TUM - CÔNG AN HUYỆN NGỌC HỒI – NP01”, mặt sau được dán kín. Tại mép dán có chữ ký, ghi họ tên của những người có tên trong biên bản niêm phong và các hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh - đen, đã qua sử dụng. Được niêm phong bằng cách bỏ vào phong bì bằng giấy, mặt trước có chữ “CÔNG AN TỈNH KON TUM - CÔNG AN HUYỆN NGỌC HỒI – NP02”, mặt sau được dán kín. Tại mép dán có chữ ký, ghi họ tên của những người có tên trong biên bản niêm phong và các hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
+ Buộc bị cáo A Th phải nộp ngân sách nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì dán kín chứa mẫu vật sau khi trích giám định được niêm phong, có khối lượng đã trừ bì là 0,122gam, mặt trước có in nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 52/KL-KTHS”; mặt sau có các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ * CÔNG AN TỈNH KON TUM” và có các chữ ký ghi tên của những người tham gia niêm phong tại mép dán.
(Vật chứng, tài sản nêu trên như được ghi tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08-6-2023 giữa Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ngọc Hồi và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Hồi).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội);
- Buộc bị cáo A J, A Th, mỗi bị cáo phải nộp là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 19-7-2023), các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo đối với phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình./.
| Nơi nhận: - TAND t. Kon Tum; - VKSND t. Kon Tum; - VKSND h. Ngọc Hồi; - Công an h. Ngọc Hồi; - Chi cục THADS h. Ngọc Hồi; - Bị cáo; người TGTT; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Phượng |