vanban.org

Bản án 21/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 17/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vương Cửu L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Vương Cửu L 01 (một) năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/12/2022). Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Cửu Long - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vương Cửu L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự - Tịch thu
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẬP THẠCH
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HS-ST
Ngày 17/03/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH - TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Trung Thành

2/ Bà Trần Thị Kim Khuyên

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Quốc Khánh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Diệp Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Thái Hòa, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2023/TLST – HS ngày ngày 02 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Vương Cửu L, sinh ngày: 29/10/1975; tại tỉnh Vĩnh Phúc;

Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện S, tỉnh V; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Vương T (đã chết); mẹ đẻ: Nguyễn Thị N; vợ: Nguyễn Thị Bích T; con: có 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2022 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện S, tỉnh V (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 30/12/2022, Vương Cửu L một mình đi xe mô tô biển kiểm soát 19H1-07205 từ nhà đến khu vực cổng Trung tâm y tế huyện Lập Thạch. Đến nơi L gặp 01 người đàn ông không quen biết, L hỏi mua 400.000đ ma túy thì người này đồng ý. L đưa cho người này 400.000đ thì người này cầm tiền và đưa cho L 01 gói nhỏ ma túy bọc bằng giấy vở học sinh bên ngoài là nilon màu trắng, L cầm ma túy cất giấu vào túi áo khoác L đang mặc rồi đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 11h15’ cùng ngày khi L đi đến khu vực thôn Mỹ Đức, xã Văn Quán, huyện Lập Thạch thì tổ công tác công an xã Văn Quán và công an xã Tiên Lữ yêu cầu dừng lại để kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng gồm: thu tại túi áo khoác ngoài bên phải L đang mặc 01 gói ma túy (Niêm phong ký hiệu A1) - L khai nhận đây là gói ma túy heroine của L tàng trữ mục đích để sử dụng; thu 01 ví giả da màu nâu bên trong có số tiền 37.000đ, 01 xe mô tô biển kiểm soát 19H1-072.05.

Ngày 03/01/2023 Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc có kết luận giám định số 48/KLGĐ kết luận: “Chất cục bột màu trắng của mẫy ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1466g (Không phảy một một sáu bảy gam, không kể bao bì) loại Heroin”.

* Về vật chứng thu giữ:

- Mẫu A1 = 0,1466g heroine, cơ quan giám định hoàn lại mẫu A1= 0,1283g cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành;

- 01 ví giả da màu nâu không có giá trị sử dụng và số tiền 37.000đ của L;

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 19H1-072.05 thu giữ của L. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Bích T. Ngày 30/12/2022 chị T cho L mượn xe để đi lại, chị T không biết L dùng để đi mua ma túy.

Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKS ngày 27 tháng 2 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Vương Cửu L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch luận tội đối với bị cáo Vương Cửu L; giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi đánh giḠtính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Vương Cửu L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng vụ án; bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo rất hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lập Thạch, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Vương Cửu L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 11h15’ ngày 30/12/2022, tại thôn Mỹ Đức, xã Văn Quán, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, Vương Cửu L có hành vi tàng trữ trái phép 0,1466g Heroine mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an xã Văn Quán và công an xã Tiên Lữ, huyện Lập Thạch bắt quả tang, thu giữ vật chứng liên quan.

Hành vi nêu trên của bị cáo Vương Cửu L đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều luật quy định:

“ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...c) Heroine,...có khối lượng từ 0.1 gam đến dưới 5 gam”

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý; gây mất trật tự trị an ở địa phương; gây dư luận xấu trong nhân dân. Bên cạnh đó, bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng, gây nghiện cho bản thân và kéo theo là các hậu quả xấu cho sức khỏe bản thân, kinh tế gia đình sa sút và ảnh hưởng đến xã hội, hơn nữa ma túy là nguồn gốc nảy sinh các loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp giật v.v... Do vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử lưu động công khai tại khu dân cư là cần thiết, có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân và phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, giữ vững an ninh tại địa phương và phải đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật, có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Qua xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo thấy rằng, bị cáo là người nghiện ma túy; công ăn việc làm và thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Mẫu A1 do cơ quan giám định hoàn lại = 0,1283g cùng toàn bộ bao gói là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 ví giả da màu nâu không có giá trị sử dụng, bị cáo không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 37.000đ là tài sản hợp pháp của bị cáo nên cần trả lại nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- 01 xe mô tô biển kiểm soát 19H1-072.05 thu giữ của bị cáo. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Bích T, chị T cho bị cáo mượn xe để đi lại, chị T không biết bị cáo dùng để đi mua ma túy nên cần trả lại cho chị T.

Đối với đối tượng bán ma tuý cho bị cáo, do bị cáo không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ để xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Vương Cửu L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Vương Cửu L 01 (một) năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 30/12/2022).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

- Tịch thu, tiêu hủy mẫu A1 do cơ quan giám định hoàn lại mẫu là 0,1283g cùng toàn bộ bao gói; 01 ví giả da màu nâu không có giá trị sử dụng

- Trả lại bị cáo số tiền 37.000đ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Trả lại chị T 01 xe mô tô biển kiểm soát 19H1-072.05.

(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/3/2023).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ