- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Văn Dương - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vi Văn D 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, t…
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21 /2023/HS-ST Ngày 27 tháng 6 năm 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Hiền;
Ông Lương Văn Giang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoan - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2023 nhà văn hóa Cộng đồng xã Thạch Ngàn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2023 đối với:
Bị cáo: Vi Văn D, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 07/3/1980 tại huyện CC, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Bản M, xã BCh, huyện CC, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vi Văn Th và bà Lương Thị Ch; Vợ: Hà Thị Ch, sinh năm 1983, Con: Có 03 người con con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo Vi Văn D bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2023 đến nay, hiện đang tạm giam. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Thế Kỷ; Trợ giúp viên - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt;
- Người chứng kiến: Chị Trương Thị Đ, sinh năm 1980;
Nơi cư trú: Khối 4, thị trấn CC, huyện CC, Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ ngày 04/4/2023, Vi Văn D thuê xe lai của một người đàn ông không quen biết đi từ bản Mét, xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông đến khu vực rừng thuộc bản Ngọn, xã, Yên Hòa, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An để mua ma túy. Đến nơi D gặp một người đàn không biết tên và địa chỉ D hỏi người đàn ông đó: “Anh có trắng với đỏ không”. Người đàn ông đó trả lời: “Có”. D hỏi hiếp “Bán cho em một trăm trắng với chín trăm đỏ”. Cùng lúc đó D đưa cho người đàn ông đó số tiền 1.000.000 đồng. Người đàn ông đó cầm tiền đi đâu một lúc rồi quay lại nơi D đang đứng đưa cho D 01 gói nhỏ, bên ngoài được gói bằng mảnh thiếc màu bạc, bên trong có chứa chất bột màu trắng và 01 gói nhỏ, bên ngoài được gói bằng mảnh bao potylen màu xanh, bên trong có 09 viên nén màu đỏ. Sau khi mua được 02 gói ma túy trên, D mở ra và lấy một ít chất bột màu trắng để sử dụng, số còn lại D gói lại và cất giấu vào túi quần phía sau, bên trái D đang mặc. Còn 09 viên màu đỏ, D cầm ở tay phía bên trái. Sau đó, D thuê xe lai về đến thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày 04/4/2023, D đến quán ăn của gia đình chị Lâm Điệp thuộc khối 4 thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông để ăn tối. Trước khi ăn D có để 09 viên nén màu đỏ vào trong bao thuốc lá nhãn hiệu White Horse rồi đặt trên bàn ăn của D. Trong lúc đang ăn thì tổ công tác Công an huyện Con Cuông tiến hành kiểm tra và phát hiện trong túi quần phía sau, bên trái mà D đang mặc có 01 gói nhỏ, bên ngoài được gói bằng giấy thiếc màu bạc, bên trong có chất bột màu trắng. Phát hiện bên trong bao thuốc lá có 01 gói nhỏ, bên ngoài được gói bằng mảnh bao potylen màu xanh, bên trong có 09 viên nén màu đỏ. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và đưa D cùng với tang vật về trụ sở Công an huyện Con Cuông để làm việc.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 23 giờ 30 phút ngày 04/4/2023 đã xác định: Cân toàn bộ gói được bọc bằng mảnh bao potylen màu xanh, Sau khi loại bỏ bao mảnh bao potylen khối lượng 09 viên nén là 0,85 gam (ký hiệu M1). Cân toàn bộ gói được bọc bằng mảnh giấy thiếc màu bạc, bên trong có chứa chất bộ màu trắng, sau khi loại bỏ bì, khối lượng chất bột màu trắng là 0,05 (Không phẩy không năm gam) (Ký hiệu M2) để có cơ sở kết luận chất ma túy Hội đồng mở niêm phong đã lấy 0,05 game chất bột màu trắng và 0,2 gam viên nén màu đỏ để gửi đi giám định.
Kết luận giám định số 411/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 04/4/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu viên nén màu đỏ ( ký hiệu M1) thu giữ của Vi Văn D gửi tới giám định là Methamphetamine. Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu M2) thu giữ của Vi Văn D gửi tới giám định là ma túy Heroine.
Cáo trạng số 22/CT-VKS-KS ngày 22/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Vi Văn D về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Vi Văn D thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với các tình tiết đúng như nội dụng bản Cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vi Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Vi Văn D mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo, xử lý vật chứng theo quy định và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đề nghị áp dụng mức hình phạt nhẹ nhất của khung hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, đồng thời miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn án phí hình sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị cáo nhận tội và mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản Cáo trạng truy tố, như vậy đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 04/4/2023, tại khu vực khối 4, thị trấn Con Cuông, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Vi Văn D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,85 (không phẩy tám lăm) gam ma túy methamphetamine và 0,05 (không phẩy không năm) gam ma túy heroine nhằm mục đích để sử dụng. Căn cứ hướng dẫn tại Điều 4 Chương 2 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng của hai chất ma tuý (Heroine, Methamphetamine) thu giữ của Vi Văn D là: 0,85g + 0,05g = 0,90g. Như vậy, trong trường hợp này tổng khối lượng của hai chất ma tuý Heroine và Methamphetamine thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi đó của bị cáo Vi Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại chất ma túy. Khi phạm tội bị cáo cũng nhận thức ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm, vì ma túy gây tác hại xấu đến kinh tế - xã hội, sức khỏe con người và cũng là mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội khác, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để tàng trữ trái phép, hành vi đó đã làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, gây hoang mang, bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có nhân thân xấu Năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu chí sửa đổi bản thân làm người có ích cho xã hội mà bị cáo hiện tại vẫn còn sử dụng ma túy, sa vào con đường nghiện ngập. Do đó cần xử lý bị cáo Vi Văn D nghiêm minh trước pháp luật, tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng thấy, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ là ông Vi Văn Thuyết được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba đã có thành tích trong phục vụ quân đội nhân dân Việt Nam nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Thấy rằng bị cáo là dân tộc thiểu số, gia đình khó khăn, bị cáo không có thu nhập ổn định, việc tàng trữ ma túy chỉ nhằm mục đích sử dụng mà không nhằm mục đích lợi nhuận, do đó Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Vi Văn D tại bản Ngọn, xã Yên Hòa, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An và người đàn ông Dương thuê chở Dương đi mua ma túy. Quá trình điều tra chưa xác định được danh tính của hai người đàn ông này. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh khi nào có kết quả sẽ xử lý sau.
Về vật chứng vụ án: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ đang niêm phong, dán kín. Trên mép dán có đầy đủ chữ ký của Hội đồng tham gia niêm phong và ghi tên Vi Văn D và đóng dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Bên trong có chứa 01(một) mảnh bao potylen xanh, 01 mảnh thiếc màu bạc, 01 mảnh bao potylen màu trắng, bên trong có chứa 07 viên nén màu đỏ có khối lượng 0,65 gam ma túy methamphetamine và 01 (một) phong bì thư bưu điện đã được mở niêm phong là những vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế khó khăn, đã có đơn xin miễn tiền án phí nên xét thấy cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Về kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và mức hình phạt: Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vi Văn D 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 04/4/2023).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì thư bưu điện, loại đang lưu hành đã được niêm phong mặt trước phong bì ghi “Vật chứng còn lại thu giữ của Vi Văn D, sinh năm 1980, trú tại Bản Mét, xã Bình Chuẩn, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An”. Mặt sau được dán kín, trên các mép dán có đóng dấu của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, chữ ký của đối tượng và những người tham gia niêm phong. Bên trong phong bì có: 01(một) mảnh bao potylen xanh, 01 mảnh thiếc màu bạc, 01 mảnh bao potylen màu trắng, bên trong có chứa 07 viên nén màu đỏ có khối lượng 0,65 gam ma túy methamphetamine và 01 (một) phong bì thư bưu điện đã được mở niêm phong. Vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 28 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Con Cuông và chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông ngày 23/5/2023.
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Văn D.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Tuyên bố bị cáo Vi Văn D có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 27/6/2023).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Con Cuông; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; - CQĐT Công an huyện Con Cuông; - CQTHAHS huyện Con Cuông; - CCTHADS huyện Con Cuông; - Bị cáo; - UBND xã Chi Khê. - Lưu HSVA, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Văn Hải |