vanban.org

Bản án 21/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 26/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M, 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 04/4/2023). Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN BIÊN
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HS-ST
Ngày 26 -7- 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN BIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hà Minh Hằng

- Ông Nguyễn Đức Hoài

- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Minh Hải Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai, vụ án hình sự thụ lý số: 24/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn M, sinh ngày 04 tháng 01 năm 1989, tại huyện A, tỉnh Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp 7 X, xã Đông H, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Không: Làm thuê;trình độ văn hoá 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Phan Thị L; vợ tên Thị Bé Ng, sinh năm 1987; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện A từ ngày 04/4/2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/4/2023, Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện An Biên, tiến hành kiểm tra phát hiện trong túi quần JEAN phía trước bên phải của Nguyễn Văn M đang mặc trên người có 02 (Hai) bịch ny lon kích thước lần lượt là 5,5cm x 04cm và 3,5cm x 02cm chứa các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất nghi là chất ma túy nên tạm giữ và niêm phong tang vật theo quy định.

Theo lời trình bày của Nguyễn Văn M: Vào ngày 04/4/2023, Nguyễn Văn M thông qua mạng Zalo để tìm mua ma túy về mục đích sử dụng. Sau đó, có người không rõ họ tên điện thoại cho M và hẹn đến Cầu Thứ 5 thuộc ấp Nam Q, xã Đông Th để giao hẹn mua, bán ma túy, M đồng ý. Khoảng 10 giờ cùng ngày M thuê xe hon đa ôm (không rõ nhân thân, lai lịch) chở đến điểm hẹn cầu Thứ 5, ấp Nam Q thì gặp người thanh niên mua 02 (hai) bịch ma túy với số tiền 4.000.000 đồng. Mạnh để hai bịch ma túy trong bao thuốc lá hiệu JET, rồi cất giấu vào túi quần Jean phía trước bên phải đang mặc trên người. Sau đó đi bộ được một đoạn thì bị bắt quả tang.

Vật chứng của vụ án gồm: 02 (Hai) bịch nylon được hàn kín, có kích thước lần lượt là 45,5cm x 04cm và 3,5cm x 02cm, bên trong 02 (Hai) bịch nylon có chứa các hạt tinh thể trong suốt không đồng nhất; 01 (Một) bao thuốc là hiệu JET.

Tại Kết luận giám định số 335/KL-KTHS ngày 10/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang kết luận:

- Các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất chứa trong 01 (Một) bịch nylon kích thướt khoảng 5,5cm x 04cm được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 4,6410 gam.

- Các hạt tinh thể trong suốt, không đồng nhất chứa trong 01 (Một) bịch nylon kích thướt khoảng 3,5cm x 02cm được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,6349 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP, ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKS-HS ngày 08/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo Nguyễn Văn M từ 05 (Năm) năm đến 06 (Sáu) năm tù;

- Về biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Các hạt tinh thể trong suốt trong 01 (Một) bịch nylon kích thướt khoảng 5,5cm x 04cm còn lại sau giám định có khối lượng là 4,5666 gam và Các hạt tinh thể trong suốt trong 01 (Một) bịch nylon kích thướt khoảng 3,5cm x 02cm còn lại sau giám định có khối lượng là 0,5963 gam; Mẫu vật và bao gói đựng mẫu niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 335/2023; 01 (Một) bao thuốc là hiệu JET.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện An Biên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất, hành vi thực hiện tội phạm: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa thể hiện:

Do muốn có ma túy để sử dụng nên vào ngày 04/4/2023, Nguyễn Văn M thông qua mạng Zalo để tìm mua ma túy. M và người bán ma túy (không rõ nhân thân lai lịch) hẹn đến cầu Thứ 5 thuộc ấp Nam Q, xã Đông Th, huyện A để giao nhận ma túy. Khoảng 10 giờ cùng ngày, M thuê xe hon đa ôm (không rõ nhân thân lai lịch) chở đến cầu Thứ N thì gặp người thanh niên mua 02 (Hai) bịch ma túy với số tiền 4.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, M để 02 (Hai) bịch ma túy trong bao thuốc lá hiệu JET, rồi cất giấu vào túi quần Jean phía trước bên phải đang mặc trên người, đi bộ được một đoạn thì bị Đội Cảnh sát Điều tra tội phạm về hình sự, kinh tế, ma túy Công an huyện An Biên, tiến hành kiểm tra, bắt quả tang. Theo Kết luận giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 5,27 gam. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên truy tố bị cáo Nguyễn Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có năng lực hành vi dân sự, ý thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất về ma túy. Nhưng vì muốn thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm mà không suy nghĩ đến hậu quả, mua ma túy về tàng trữ để sử dụng. Bị cáo biết rõ tác hại của việc sử dụng trái phép sẽ gây ra nhiều hệ lụy cho xã hội, gây ảnh hưởng sức khỏe và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, làm mất an ninh trật tự xã hội, gây bất bình trong nhân dân

Do đó, cần xét xử bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Đồng thời, qua xét xử nhằm tuyên truyền tác hại ma túy, ngăn ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội để tuyên xử mức án phù hợp.

Xét bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thái độ thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên xét xử bị cáo mức án đầu khung cũng đủ nghiêm, thể hiện sự khoan hồng của nhà nước đối với người thật sự biết ăn năn hối cải, để bị cáo có thời gian học tập cải tạo sớm hòa nhập với cộng đồng.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn M hiện chưa không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện An Biên tiếp tục điều tra xác minh khi nào có đủ cơ sở sẽ tiến hành xử lý sau.

Xét về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại tòa hôm nay, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo, tỏ ra biết ăn năn hối cải, người thân (là bà ngoại của bị cáo) có công với cách mạng. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Các hạt tinh thể trong suốt trong 01 (Một) bịch nylon kích thướt khoảng 5,5cm x 04cm còn lại sau giám định có khối lượng là 4,5666 gam và Các hạt tinh thể trong suốt trong 01 (Một) bịch nylon kích thướt khoảng 3,5cm x 02cm còn lại sau giám định có khối lượng là 0,5963 gam; Mẫu vật và bao gói đựng mẫu niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 335/2023; 01 (Một) bao thuốc là hiệu JET.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M, 05 (Năm) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 04/4/2023).

2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: Các hạt tinh thể trong suốt trong 01 (Một) bịch nylon kích thướt khoảng 5,5cm x 04cm còn lại sau giám định có khối lượng là 4,5666 gam và Các hạt tinh thể trong suốt trong 01 (Một) bịch nylon kích thướt khoảng 3,5cm x 02cm còn lại sau giám định có khối lượng là 0,5963 gam; Mẫu vật và bao gói đựng mẫu niêm phong trong 01 (Một) phong bì có ký hiệu vụ số 335/2023; 01 (Một) bao thuốc là hiệu JET.

(Theo quyết định chuyển vật chứng số 22/QĐ/VKSHAB ngày 08/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26/7/2023).

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự th́ người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ