- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị Vân A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HS-PT Ngày 07-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Long Kiếm
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuệ
Ông Vi Đức Trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Tống Văn Giang, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lạng, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 60/2023/TLPT-HS ngày 18 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo Hoàng Thị Vân A, do có kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Vân A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2023/HS-ST ngày 17-7-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Bị cáo có kháng cáo: Hoàng Thị Vân A, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1983, tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Đường T, phường H, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Lê H và bà Hoàng Thị L; có chồng là Lê Mạnh C (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giam từ ngày 24-02-2023 đến nay; có mặt.
- Bị cáo không có kháng cáo: Phạm Thị O, sinh ngày 21 tháng 4 năm 1965, tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký thường trú: Đường P, phường T, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ở: Đường H, khối H, phường C, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị V (đều đã chết); có chồng là Phạm Văn N (đã chết) và có 02 con; tiền án: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2013/HSST ngày 21-9-2013, bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; tiền sự: Không có; nhân thân: Chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23-12-2021, tạm giam từ ngày 26-12-2021 đến nay; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Hoàng Thị Vân A: Bà Chu Thị Nguyễn P, Luật sư Văn phòng luật sư N thuộc Đoàn luật sư tỉnh Lạng Sơn, đã từ chối tham gia tố tụng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 10 phút ngày 23-12-2021 tổ công tác Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa số nhà X, ngõ Y, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn bắt quả tang Phạm Thị O đang thực hiện hành vi vận chuyển ma túy đi tiêu thụ, thu giữ trong lòng bàn tay trái của Phạm Thị O 01 gói giấy màu trắng (giấy vệ sinh) bên trong có 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng, 01 túi nilon màu xanh chứa 197 viên nén màu hồng và 02 viên nén màu xanh Phạm Thị O khai đều là ma túy, khám xét người tạm giữ 01 túi xách giả da màu đen Phạm Thị O đang đeo trên người, bên trong gồm 01 điện thoại di động Samsung màu xanh lắp sim số 0355.239.388 và 0815.696.528, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone màu trắng vàng lắp sim 0335089481, 01 điện thoại Nokia màu đen lắp sim 0848.976.558 và 3.800.000 đồng. Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang bị cáo Phạm Thị O khai nhận toàn bộ số ma túy thu giữ được Phạm Thị O chuẩn bị giao bán cho Hoàng Thị Vân A đang trọ tại số X, ngõ Y, đường L, phường V, thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. Hồi 16 giờ 30 phút ngày 23-12-2021, Công an thành phố Lạng Sơn khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hoàng Thị Vân A thu giữ 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Hoàng Thị Vân A, 01 điện thoại di động nhãn hiệu iTel màu đỏ số IMEI 355057091479965 lắp kèm sim số thuê bao 0877.005.178 và số tiền 4.000.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra giai đoạn xét xử sơ thẩm lần 1, Phạm Thị O và Hoàng Thị Vân A khai nhận: Phạm Thị O và Hoàng Thị Vân A là bạn bè quen biết ngoài xã hội, qua nói chuyện Hoàng Thị Vân A biết Phạm Thị O bán ma túy. Hồi 21 giờ 20 phút ngày 22-12-2021, Hoàng Thị Vân A sử dụng số điện thoại 0877.005.178 gọi điện đến số điện thoại 0815.696.528 của Phạm Thị O hỏi mua 8.000.000 đồng ma túy (khoảng 200 viên ma túy ngựa và 10 gam ma túy đá), Phạm Thị O đồng ý. Hoàng Thị Vân A và Phạm Thị O thỏa thuận giao nhận ma túy và thanh toán tiền mặt tại phòng trọ của Hoàng Thị Vân A. Sau đó Phạm Thị O một mình đi đến khu vực vườn hoa trước tòa nhà V, phường C, thành phố L gặp và mua 7.000.000 đồng với một người nam thanh niên (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) được 01 gói giấy màu trắng (giấy vệ sinh) bên trong có 01 túi nilon chứa 199 viên ma túy ngựa (197 viên màu hồng, 02 viên màu xanh) và 01 túi nilon chứa khoảng 10 gam ma túy đá đem về cất giấu dưới cục gỗ để ngoài cửa nhà trọ. Lúc 12 giờ 55 phút, ngày 23-12-2021, Hoàng Thị Vân A gọi điện thoại cho Phạm Thị O hỏi “chị đến chưa” với mục đích xem Phạm Thị O đến giao ma túy chưa thì Phạm Thị O trả lời “chị đang ăn cơm, tí chị gọi lại”. Khoảng 13 giờ 30 phút, Phạm Thị O cầm theo toàn bộ số ma túy trên và nhờ Hoàng Văn D (sinh năm 1961 - là người chung sống với Phạm Thị O) điều khiển xe mô tô Honda Airblade BKS 12K5-1988 chở Phạm Thị O đến nhà trọ của Hoàng Thị Vân A với mục đích để bán ma túy cho Hoàng Thị Vân A theo thỏa thuận và thống nhất từ hôm trước. Lúc 13 giờ 36 phút, Phạm Thị O gọi điện thoại đến số điện thoại của Hoàng Thị Vân A nhưng hai bên không nghe thấy nhau nói gì. Đến 13 giờ 52 phút, khi đang trên đường đi Phạm Thị O nhận được điện thoại của Hoàng Thị Vân A hỏi đã đến chưa (đến phòng trọ của Vân A chưa) thì Phạm Thị O nói “Chị đến cửa phòng trọ rồi”, Hoàng Thị Vân A nói "e ra mở cửa" rồi cúp máy. Khi Phạm Thị O đi đến khu vực trước cổng phòng trọ chuẩn bị giao ma túy cho Hoàng Thị Vân A thì bị Công an thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Khi đó Hoàng Thị Vân A ở trong phòng trọ đang đi ra ngoài thì nhìn thấy Phạm Thị O bị bắt nên không đóng cửa phòng trọ, rồi mở cổng bỏ đi khỏi phòng trọ. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23-12-2021, Hoàng Thị Vân A quay về phòng trọ thì Công an thành phố Lạng Sơn triệu tập lên trụ sở để làm việc và xét nghiệm chất ma túy đối với Hoàng Thị Vân A kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine.
Kết luận giám định số 32/KL-PC09 ngày 25/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất tinh thể màu trắng gửi giám định là chất ma túy Methamphetamine có khối lượng 9,855 gam (đã trừ bì); 197 viên nén màu hồng gửi giám định đều là chất ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng 19,735 gam (đã trừ bì); 02 viên nén màu xanh gửi giám định có khối lượng 0,209 gam không tìm thấy chất ma túy.
Kết luận giám định số 69/KLGĐ-PC09 ngày 04/01/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận số tiền 3.800.000 đồng thu giữ của Phạm Thị O và số tiền 4.000.000 đồng thu giữ của Hoàng Thị Vân A đều là tiền thật.
Ngày 18-4-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn đã chuyển hồ sơ vụ án và Bản kết luận điều tra đề nghị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn truy tố đối với Phạm Thị O về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Ngày 09-5-2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn ban hành Cáo trạng số 56/CT-VKS-MT ngày 09-5-2022 truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn để xét xử Phạm Thị O về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Ngày 08-7-2022, Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn mở phiên tòa xét xử đối với bị cáo Phạm Thị O. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2022/HS-ST ngày 08-7-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn xử phạt bị cáo Phạm Thị O 14 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Ngày 08-8-2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 36/QĐ-VKS-P7 kháng nghị Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2022/HS-ST ngày 08-7-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử theo trình tự phúc thẩm hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2022/HS-ST ngày 08-7-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn để điều tra, truy tố, xét xử lại vụ án do đã để lọt tội phạm đối với Hoàng Thị Vân A.
Ngày 15-9-2022, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 62/2022/TLPT-HS ngày 15-8-2022 đối với bị cáo Phạm Thị O do có kháng cáo của bị cáo và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn. Tại Bản án số 48/2022/HS-PT ngày 15-9-2022, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn, hủy Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2022/HS-ST ngày 08-7-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn để điều tra, truy tố, xét xử lại; chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn để giải quyết theo thủ tục chung theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Ngày 29-9-2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lạng Sơn ra Quyết định Trả lại hồ sơ vụ án để điều tra lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn để xem xét hành vi của Hoàng Thị Vân A về tội phạm ma túy.
Quá trình điều tra lại, ngày 24-02-2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lạng Sơn đã ra Quyết định khởi tố bổ sung vụ án, khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Hoàng Thị Vân A về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với Hoàng Thị Vân A cho kết quả dương tính với chất ma túy Methamphetamine.
Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2023/HS-ST ngày 17-7-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đã căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hoàng Thị Vân A 05 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngoài ra, Bản án còn tuyên phạt bị cáo Phạm Thị O 13 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn luật định, bị cáo Hoàng Thị Vân A kháng cáo cho rằng cấp sơ thẩm xử phạt 05 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là quá nặng và chưa thỏa đáng. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Hoàng Thị Vân A thay đổi nội dung kháng cáo xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn: Bản án sơ thẩm kết án các bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng nhân thân, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và ấn định mức hình phạt 05 năm 03 tháng tù đối với bị cáo Hoàng Thị Vân A là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Hoàng Thị Vân A không cung cấp được thêm tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bản thân. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Vân A, giữ nguyên hình phạt tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị Vân A thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, như nội dung Bản án sơ thẩm. Tại cấp sơ thẩm, bị cáo cho rằng: Bị cáo đã thay đổi ý định và dự kiến mua ít hơn số lượng ma túy đã thỏa thuận với Phạm Thị O nhưng chưa kịp thông báo cho Phạm Thị O thì Phạm Thị O đã đem ma túy đến cho bị cáo; bản thân bị cáo không có đủ tiền để mua hết số ma túy Phạm Thị O đã đem đến. Xét thấy, Phạm Thị O và Hoàng Thị Vân A đã có thỏa thuận trước là Phạm Thị O sẽ bán cho Hoàng Thị Vân A khoảng 200 viên ma túy ngựa và 10 gam ma túy đá, Phạm Thị O đã đem ma túy đến cho bị cáo Hoàng Thị Vân A nên việc mua bán được xác định là hoàn thành; việc Hoàng Thị Vân A chưa nhận được ma túy do Phạm Thị O bị bắt quả tang là nằm ngoài ý muốn của bị cáo Hoàng Thị Vân A. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng ma túy thu được khi bắt quả tang Phạm Thị O đang vận chuyển đến cho Hoàng Thị Vân A; qua giám định có khối lượng là 29,590 gam ma túy methamphetamine. Bị cáo Hoàng Thị Vân A và bị cáo Phạn Thị Oanh đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Phạm Thị O là người bán chất ma túy đã bị truy tố, xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy; bị cáo Hoàng Thị Vân A thực hiện hành vi mua chất ma túy về sử dụng. Vì vậy, việc truy tố và xét xử bị cáo Hoàng Thị Vân A về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Xét kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Vân A đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện, đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Hoàng Thị Vân A; áp dụng cho bị cáo Hoàng Thị Vân A mức án thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt và ấn định mức hình phạt 05 năm 03 tháng tù đối với bị cáo Hoàng Thị Vân A là phù hợp và có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo Hoàng Thị Vân A không xuất trình được thêm tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của bản thân. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng Thị Vân A, giữ nguyên hình phạt tù cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Hoàng Thị Vân A.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Hoàng Thị Vân A phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hoàng Thị Vân A; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 96/2023/HS-ST ngày 17-7-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đối với phần hình phạt tù của bị cáo Hoàng Thị Vân A, cụ thể như sau:
1. Căn điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hoàng Thị Vân A 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24-02-2023.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Hoàng Thị Vân A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm sung ngân sách Nhà nước.
3. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 07/9/2023./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Phòng PV 06 Công an tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - TAND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - VKSND TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - CCTHADS TP. L, tỉnh Lạng Sơn; - Công an TP. Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn; - Bị cáo; người TGTT khác; - Lưu: Hồ sơ, HCTP, Tòa Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Long Kiếm |