- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung giữa L & C"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TAN CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST Ngày: 31/3/2023 V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH ANGIANG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Minh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thái Trân;
2. Ông Nguyễn Hồng Thái.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Minh Cảnh - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 515/2022/TLST-HNGĐ ngày 19/12/2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 14/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/3/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1993; địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã X, thị xã T, tỉnh An Giang; có mặt
- Bị đơn: Anh Quản Văn C, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã X, thị xã T, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 21/11/2022, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị L trình bày: Về hôn nhân giữa chị L với anh Quản Văn C do quen biết nhau trước, được cha, mẹ hai bên đồng ý nên hai người tiến tới hôn nhân vào năm 2012. Hai người có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thị xã T, tỉnh An Giang, theo giấy chứng nhận kết hôn số 69, Quyển số: 01/14 ngày 04/6/2014. Sau khi cưới nhau thì chị L và anh C về sống chung tại gia đình cha mẹ anh C và làm thuê, do ở địa phường không việc làm ổn định nên vợ chồng lên tỉnh Bình Dương làm công nhân. Cuộc sống vợ chồng lúc đầu có hạnh phúc, sau đó anh C có dấu hiệu giả dối về tình cảm và quan hệ với người phụ nữ khác, chị L nhiều lần khuyên can nhưng anh C cố tình che đậy thối hư tật xấu bằng cách chửi bới và đánh đập chị L. Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 5/2022 đến nay. Chị L nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, sống không có hạnh phúc. Chị L xin được ly hôn với anh C.
- Về con chung: Chị L với anh Quản Văn C có với nhau 02 đứa con chung tên Quản Thị Kim C, sinh ngày 26/9/2012 và Quản Nguyễn Quốc H, sinh ngày 02/6/2020. Hiện hai cháu đang sống với chị L. Khi ly hôn, chị L yêu cầu nuôi cả 02 cháu, chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị L khai chị với anh C không có tài sản chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị L khai, chị với anh C không có nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Quản Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh C vắng mặt không lý do.
Biên xác minh ngày 24/02/2023 của Hội phụ nữ xã X cung cấp về tình trạng hôn nhân của chị L và anh C thể hiện: Chị Nguyễn Thị L với anh Quản Văn C kết hôn với nhau vào năm 2012, sau khi cưới vợ chồng sống bên gia đình anh C, hôn nhân hai người có đăng ký kết hôn tại UBND xã X vào năm 2014. Chị L và anh C lên tỉnh Bình Dương làm công nhân 7- 8 năm nay. Thường chị L và anh C có về địa phương mỗi năm một vài lần. Gần đây Hội phụ nữ xã có nghe vợ chồng chị L và anh C có xích mích với nhau, Hội phụ nữ xã có liên hệ với ban nhân dân ấp 1, xã X và liên hệ gia đình hai bên để tìm hiểu nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, nhưng không ai biết được mâu thuẫn gì và mức độ nghiêm trọng thế nào. Vì hai người sống ở tỉnh Bình Dương nên mâu thuẩn xảy ra cũng ở trên đó.
Biên bản xác minh ngày 02/02/2023 Công an xã X cung cấp: Anh Quản Văn C, sinh năm 1990 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp 1, xã X, thị xã T, tỉnh An Giang. Hiện anh Quản Văn C vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên.
Toà án tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải nhưng không thực hiện được do anh C vắng mặt.
Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh ngày 24/02/2023 của Hội phụ nữ xã X, biên bản không lấy được lời khai anh C ngày 24/02/2023, biên bản xác minh ngày 02/02/2023 của Công an xã X, thị xã T, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa, chị L giữ nguyên yêu cầu, anh C vắng mặt,
Chị L xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án, không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác; anh C không cung cấp chứng cứ.
- Ý kiến của Kiểm sát viên:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét xử. Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.
Ý kiến về giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị L với anh Quản Văn C có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, tháng 5/2022 giữa chị L với anh C có phát sinh mâu thuẫn. Chị L với anh C đã không còn sống chung thời gian dài. Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị L với anh C có 02 con chung tên Quản Thị Kim C, sinh ngày 26/9/2012 và Quản Nguyễn Quốc H, sinh ngày 02/6/2020. Hiện hai cháu đang sống với chị L. Đề nghị giao hai con chung tên Quản Thị Kim C và Quản Nguyễn Quốc H cho chị L nuôi, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nợ chung: Không có, không đặt ra giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị L khởi kiện “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” với anh Quản Văn C, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: Ấp 1, xã X, thị xã T, tỉnh An Giang. Xét, quan hệ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; nguyên đơn đã nộp tạm ứng án phí và Tòa án thụ lý giải quyết.
Biên bản xác minh ngày 02/02/2023 Công an xã X cung cấp: Anh Quản Văn C, sinh năm 1990 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Ấp 1, xã X, thị xã T, tỉnh An Giang. Hiện anh Quản Văn C vẫn còn hộ khẩu tại địa chỉ trên.
Sự vắng mặt của đương sự: Anh Quản Văn C vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L với anh Quản Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đã đăng ký kết hôn UBND xã X, thị xã T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số: 69, Quyển số: 01/14 ngày 04/6/2014. Xét, hôn nhân giữa chị L và anh C là hợp pháp.
Chị L khai, Sau khi cưới nhau thì chị L và anh C về sống chung với gia đình cha mẹ anh C và làm thuê, do ở địa phường không việc làm ổn định nên vợ chồng lên tỉnh Bình Dương làm công nhân. Cuộc sống vợ chồng lúc đầu có hạnh phúc, sau đó anh C có dấu hiệu giả dối về tình cả và quan hệ với người phụ nữ khác, chị L nhiều lần khuyên can nhưng anh C cố tình che đậy thối hư tật xấu bằng cách chửi bới và đánh đập chị L. Vợ chồng không còn sống chung từ tháng 5/2022 đến nay. Chị L nhận thấy tình cảm giữa hai vợ chồng không còn, không thể hàn gắn lại, sống không có hạnh phúc. Chị L xin được ly hôn với anh C.
Biên xác minh ngày 24/02/2023 của Hội phụ nữ xã X cung cấp về tình trạng hôn nhân của chị L và anh C thể hiện: Chị Nguyễn Thị L với anh Quản Văn C kết hôn với nhau vào năm 2012, sau khi cưới vợ chồng sống bên gia đình anh C, hôn nhân hai người có đăng ký kết hôn tại UBND xã X vào năm 2014. Chị L và anh C lên tỉnh Bình Dương làm công nhân 7- 8 năm nay. Thường chị L và anh C có về địa phương mỗi năm một vài lần. Gần đây Hội phụ nữ xã có nghe vợ chồng chị L và anh C có xích mích với nhau, Hội phụ nữ xã có liên hệ với ban nhân dân ấp 1, xã X và liên hệ gia đình hai bên để tìm hiểu nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, nhưng không ai biết được mâu thuẫn gì và mức độ nghiêm trọng thế nào. Vì hai người sống ở tỉnh Bình Dương nên mâu thuẩn xảy ra cũng ở trên đó.
Theo khoản 2 Điều 17, Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp,… và lý do chính đáng khác”;
“Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau”.
Chị L với anh C có thời gian dài không sống chung, hai người không tự hàn gắn lại được, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Giữa chị L với anh C đã sống xa cách nhau từ tháng 5 năm 2022 đến nay.
Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét, chấp nhận yêu cầu của chị L ly hôn đối với anh C.
Về con chung: Chị L với anh C, trong thời kỳ hôn nhân hai người có 02 con chung tên Quản Thị Kim C, sinh ngày 26/9/2012 và Quản Nguyễn Quốc H, sinh ngày 02/6/2020. Hiện hai cháu đang sống với chị L. Khi ly hôn, chị L yêu cầu nuôi cả 02 cháu, chị L không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Nguyện Vọng của cháu Quản Thị Kim C muốn được sống với chị L.
Xét, giao 02 cháu Quản Thị Kim C, sinh ngày 26/9/2012 và Quản Nguyễn Quốc H, sinh ngày 02/6/2020 cho chị L được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị L cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh C trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị L khai giữa chị với anh C không có tải sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, không đặt ra giải quyết. Nếu sau này anh C cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa anh C với chị L có tài sản, nợ chung mà không tự thỏa thuận được thì anh C vẫn có quyền khởi kiện chị L ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị L được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0006898 ngày 13/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;
Anh Quản Văn C không phải chịu tiền án phí hôn nhân.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Quản Văn C;
Giấy chứng nhận kết hôn số 69, Quyển số: 01/14, ngày 04/6/2014 do UBND xã X, thị xã T, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị L với anh Quản Văn C không còn giá trị pháp lý.
Về con chung: Giao 02 cháu Quản Thị Kim C, sinh ngày 26/9/2012 và Quản Nguyễn Quốc H, sinh ngày 02/6/2020 cho chị Nguyễn Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Quản Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con..
Chị Nguyễn Thị L cùng thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Quản Văn C trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra giải quyết. Nếu sau này anh Quản Văn C cho rằng trong thời kỳ hôn nhân giữa anh C với chị L có tài sản, nợ chung thì anh C vẫn có quyền khởi kiện chị L ra tòa yêu cầu giải quyết trong vụ án khác
Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị L được chuyển từ tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0006898 ngày 13/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu;
Anh Quản Văn C không phải chịu tiền án phí hôn nhân.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị Nguyễn Thị L có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Thời gian kháng cáo của anh Quản Văn C là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Hội thẩm nhân dân
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Thế Minh |