- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị Thảo ly hôn anh Vũ Đình Dương"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Vũ Đình D.
- Căn cứ chính? Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST Ngày 12 tháng 4 năm 2023 “V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Bá Điền;
Bà Nguyễn Thị Tần.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 135/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2023 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1985.
HKTT: Thôn 9, xã Vân Đ, huyện Đoan H, tỉnh Phú Thọ.
Nơi ở hiện nay: Số nhà 108, tổ 27, thị trấn Đông A, huyện Đông A, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Vũ Đình D, sinh năm 1983.
HKTT: Thôn 9, xã Vân Đ, huyện Đoan H, tỉnh Phú Thọ.
Hiện đang ở nước ngoài.
- Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Vũ Đình Đ, sinh năm 1952 và bà Đinh Thị Th, sinh năm 1958.
Đều đi ̣a chi: Thôn 9, xã Vân Đ, huyện Đoan H, tỉnh Phú Thọ.̉
(Chị T, ông Đ và bà Th vắng mă ̣t nhưng có đơn xin xét xử vắng mă ̣t . Anh D vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/7/2022 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Đình D kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hòa S, huyện Đô L, tỉnh Nghệ An ngày 04/02/2011. Thờ i gian đầu hai vợ chồng chung sống ha ̣nh phúc sau cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do anh D không chịu làm ăn và thường xuyên cờ bạc, lô đề. Đến năm 2018 anh D đi nước ngoài và không quan tâm đến gia đình vợ con, gia đình hai bên đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh D không thay đổi. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn n ên chị đề nghi ̣ ly hôn anh D để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị T xác định vợ chồng có hai con chung là cháu Vũ Nhật M, sinh ngày 25/11/2011 và cháu Vũ Nguyễn Nhật Q, sinh ngày 14/02/2014. Hiện cả hai cháu do chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, chị không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng.
Về tài sản chung, riêng: Tại đơn khởi kiện chị T đề nghị xem xét giải quyết nhưng nay chị xác định vợ chồng tự bàn bạc thỏa thuận được với nhau nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về công nợ, công sứ c đó ng gó p của vợ chồng : Chị T không đề nghi ̣ Tòa án giải quyết.
Về á n phi ly hôn sơ thẩm: Chị T tự nguyê ̣n chi ̣u toàn bô ̣.
́
Cháu Vũ Nhật M và cháu Vũ Nguyễn Nhật Q đều có nguyện vọng ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.
Phía bị đơn: Anh Vũ Đình D hiện đang ở nước ngoài thể hiện tại công văn số: 23649/QLXNC-P5 ngày 04/11/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ công an xác định anh D đa xuất cảnh ngày 03/01/2020, hiê ̣̃
n chưa có thông tin nhâ ̣p cảnh về nướ c. Do chị T không biết địa chỉ của anh D ở đâu tại nước ngoài nên Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của ông Vũ Đình Đ và bà Đinh Thị Th là bố, mẹ của anh D và được ông Đ và bà Th cung cấp như sau: Hiện tại anh D đang ở Singapore địa chỉ cụ thể ông, bà không biết. Nhưng gia đinh và anh D
̀ vẫn thường xuyên liên lạc qua điện thoại Zalo, Facebook, ông Đ và bà Th đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án gửi cho anh D và yêu cầu ông, bà cung cấp địa chỉ của anh D ở nước ngoài, ông, bà đã thông báo cho anh D biết xong anh D không cung cấp địa chỉ cho ông, bà để cung cấp cho Tòa án. Thông qua điện thoại ông, bà đã trao đổi nội dung chị T xin ly hôn anh D và anh D nhất trí ly hôn theo yêu cầu của chị T.
Về con chung: Ông Đ và bà Th xác định chị T và anh D có hai con chung là cháu Vũ Nhật M, sinh ngày 25/11/2011 và cháu Vũ Nguyễn Nhật Q, sinh ngày 14/02/2014. Hiện nay hai cháu đều do chị T trực tiếp chăm sóc, anh D đang ở nước ngoài không thể trực tiếp nuôi dưỡng hai cháu được nên anh D đồng ý cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là cháu M và cháu Q, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về những nội dung sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo đúng quy định trình tự của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung đề nghị hội đồng xét xử:
Áp dụng Điều 51, 56 Luật HNGĐ; căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c Khoản 1 Điều 37 BLTTDS; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử :
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị T được ly hôn với anh D.
+ Về con chung: Chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục hai cháu Vũ Nhật M, sinh ngày 25/11/2011 và cháu Vũ Nguyễn Nhật Q, sinh ngày 14/2/2014 cho đến khi các cháu thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm con mà không ai cản trở. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Xác định không có và không đề nghị giải quyết.
+ Về án phí: Chị T chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Bị đơn anh Vũ Đình D đăng ký hộ khẩu thường trú tại xã Vân Đ, huyện Đoan H, tỉnh Phú Thọ. Theo Công văn số: 23649/QLXNC-P5 ngày 04/11/2022 của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ công an xác định anh D đa ̃ xuất cảnh ngày 03/01/2020, hiê ̣n chưa có thông tin nhâ ̣p cảnh về nướ c . Căn cứ khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Trong vụ án này anh D không có mặt ở Việt Nam nên Tòa án không tiến hành hòa giải được quy định tại khoản 2 điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng với quy định của pháp luật.
Chị T đề nghị xin ly hôn với anh D và chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng ở Việt Nam của anh D mà không cung cấp được địa chỉ anh D ở chỗ nào tại nước ngoài, Tòa án đã thông qua thân nhân của anh D là ông Vũ Đình Đ và bà Đinh Thị Th là bố, mẹ của anh D thì thấy gia đình đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không biết địa chỉ cụ thể của anh D ở đâu tại nước ngoài, bản thân anh D không cung cấp địa chỉ mặc dù đã được ông Đ và bà Th thông báo. Căn cứ công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn nên cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Tại phiên tòa chị T, ông Đ và bà Th vắng mă ̣t nhưng có đơn xin xét xử vắng mă ̣t. Do vậy, Tòa án căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Vũ Đình D kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 04/02/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Hòa S, huyện Đô L, tỉnh Nghệ An, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa chị T và anh D có xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là quan điểm sống không hợp nhau, hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã. Anh D không chịu làm ăn và thường xuyên cờ bạc, lô đề. Chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D. Mặc dù anh D không có lời khai xong thông qua ông Đ và bà Th là bố, mẹ của anh D cung cấp quan điểm của anh D cũng nhất trí ly hôn với chị T. Do vậy, có căn cứ để xác định tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh D đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử cho chị T được ly hôn anh D là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị T và anh D có 02 con chung là cháu Vũ Nhật M, sinh ngày 25/11/2011 và cháu Vũ Nguyễn Nhật Q, sinh ngày 14/02/2014. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung con chung. Chị T không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng.
Xét thấy: Nguyện vọng của chị T được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung, hiện cháu M và cháu Q đang ở với chị T và có nguyện vọng ở cùng chị T. Thông qua ông Đ và bà Th cung cấp thông tin anh D cũng nhất trí cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung nên giao cháu Vũ Nhật M và cháu Vũ Nguyễn Nhật Q cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T do chị T tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng là phù hợp.
Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện chị T đề nghị xem xét giải quyết nhưng nay chị xác định vợ chồng tự bàn bạc thỏa thuận được với nhau nên không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
Về công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị T không đề nghị Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị T phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo đối vớ i bản án : Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 và điều 123 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 điều 35, điểm a khoản 1 điều 37; điểm a khoản 1 điều 39; khoản 2 điều 207; điểm b khoản 2 điều 227, khoản 1 điều 228; khoản 1, 2 điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Vũ Đình D.
[2]. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là cháu Vũ Nhật M, sinh ngày 25/11/2011 và cháu Vũ Nguyễn Nhật Q, sinh ngày 14/02/2014. Anh D không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T do chị T tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng.
Anh D có quyền, nghĩa vụ nghĩa vụ trông nom, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở..
[3]. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không đặt ra xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị T đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí , lệ phí tòa án số: 0000341 ngày 26/10/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ.
[5]. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Đương sự có mặt tại Việt Nam có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án để đề nghị Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Đương sự cư trú ở nước ngoài có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (Một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh; - Cục THADS tỉnh Phú Thọ; - Các đương sự; - UBND xa Vân Đ;̃ - UBND xã Đô L; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM ̉ THÂM PHÁ N CHỦ TỌA PHIÊN TÒ A (đã ký) Nguyễn Anh Tuấn |