- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: bà Cao Thị Tuyết V và ông Lê Văn T được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST Ngày: 22 – 5 – 2023 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trí Viễn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hữu Phúc;
2. Bà Nguyễn Thị Ánh Gương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tuyết Phương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 08/5/2023, 22/5/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 369/2022/TLST-HNGĐ ngày 01/12/2022, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/4/2023, Quyết định hoãn phiên toà số: 09/2023/QĐST-DS ngày 08/5/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Cao Thị Tuyết V, sinh năm: 1966.
2. Bị đơn: Lê Văn T, sinh năm: 1974.
Cùng địa chỉ: ấp A, xã P, huyện T - Đồng Tháp.
(Bà V có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện và lời tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Cao Thị Tuyết V trình bày: bà với ông Lê Văn T tiến hành hôn nhân, có đăng ký kết hôn năm 2015. Trong quá trình chung sống không có con chung và tài sản chung, cũng không nợ người khác. Đến năm 2022 thì do mâu thuẩn nên cả hai đã ly thân cho đến nay. Do bất đồng quan điểm, không thể hàn gắn tình cảm được, nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Về tình cảm: yêu cầu được ly hôn với ông T
+ Về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Lê Văn T mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gửi cho Toà án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông phát biểu việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự là đúng quy định. Riêng đối với bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Về ý kiến giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định :
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp về ly hôn với bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện T là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Tam Nông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Bị đơn không có ý kiến phản đối về tình trạng hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung do phía nguyên đơn đưa ra. Căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh.
Bà V cho là đời sống vợ chồng không hạnh phúc, luôn xảy ra mâu thuẩn, dù đã ly thân từ năm 2022 đến nay nhưng cũng không thể hàn gắn được tình cảm, nên cương quyết xin được ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, ông T không có mặt để tiến hành hòa giải, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần, chứng tỏ ông không muốn hàn gắn tình cảm, mặt khác Tòa án đã thông báo yêu cầu ông cung cấp chứng cứ thể hiện việc phản đối về tình trạng hôn nhân mà bà V đã trình bày nhưng không có ý kiến phản hồi.
Xét thấy, bà V và ông T chung sống có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp ngày 22/6/2015, nhưng tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, do đó nghĩ cần cho bà V và ông T ly hôn là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: đương sự cho là không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Từ những nhận định trên, nên chấp nhận ý kiến của Viện kiểm sát.
Về án phí dân sự sơ thẩm: căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và áp dụng Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì bà V là người khởi kiện thì phải chịu án phí là 300.000đồng. ông T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 92, 147, 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự ; Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
- Về quan hệ hôn nhân: bà Cao Thị Tuyết V và ông Lê Văn T được ly hôn.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Cao Thị Tuyết V phải chịu án phí là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0012930, ngày 28/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông. Bà V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
+ Ông Lê Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND H.Tam Nông; - UBND xã Phú Thành A, H. Tam Nông - ĐT. - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Trí Viễn |