vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Dương Thị Thùy V được ly hôn với anh Nguyễn Trường Kh.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Dương Thảo Ng, sinh ngày 28/6/2017 cho chị V được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Trường Kh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản. Về cấp dưỡng: Buộc anh Kh có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Dương Thảo Ng, sin… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dương Thị Thùy Vân - Nguyễn Trường Khoa"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Dương Thị Thùy V được ly hôn với anh Nguyễn Trường Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN P
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 27/3/2023
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P – TỈNH BẠC LIÊU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Văn Cung

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Hồng Lành

Bà Dƣơng Thị Tú Phƣơng

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Loan – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 368/2022/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thùy V, sinh năm 1999;

Địa chỉ: ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Bị đơn: Anh Nguyễn Trường Kh, sinh năm 1998;

Địa chỉ: ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Chị V vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Kh vắng mặt lần thứ hai không

có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 08/11/2022, các lời khai tiếp theo có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Dƣơng Thị Thùy V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Trường Kh xây dưng hôn nhân năm 2016 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hưng Phú, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, tuy nhiên được một thời gian chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn được do chị và anh Kh bất đồng quan điểm sống, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, hiện tại tình cảm vợ chồng cũng không còn, từ đó vợ chồng đã ly thân với nhau khoảng 03 năm nay, từ lúc ly thân đến nay chị và anh Kh không có gặp nhau hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng, nay chị xác định hôn nhân không thể tiếp tục được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trường Kh.

Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Kh có một người con chung tên Nguyễn Dương Thảo Ng, sinh ngày 28/6/2017, hiện con chung đang sống với chị. Khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Ng, chị yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Trường Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng anh Kh vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P trình bày quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên Thẩm phán thực hiện chưa đúng quy định tại Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự từ khi tham gia tố tụng đến nay, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Đối với bị đơn Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do là vi phạm nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cho chị V được ly hôn với anh Kh; giao cháu Nguyễn Dương Thảo Ng, sinh ngày 28/6/2017 cho chị V được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng, anh Kh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Buộc anh Kh cấp dưỡng cho cháu Ng mỗi tháng số tiền 745.000đ/cháu cho đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Án phí nguyên đơn phải chịu 300.000đ, bị đơn phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; sau khi nghe ý kiến phát biểu đề xuất của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Chị Dương Thị Thùy V yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Trường Kh, anh Kh có địa chỉ thường trú tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện P theo quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị V có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Kh đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị V và anh Kh là phù hợp quy định tại Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị V và anh Kh xây dựng hôn nhân năm 2016 và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Vì vậy, hôn nhân của anh, chị là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nguyên nhân ly hôn theo chị V trình bày là do vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, hiện tại tình cảm vợ chồng cũng không còn nữa, trong thời gian ly thân khoảng 03 năm nay mỗi người ở một nơi, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, các bên cũng không có biện pháp hàn gắn lại cuộc sống vợ chồng. Mặc khác anh Kh đã được Tòa án triệu tập hòa giải đoàn tụ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, điều này chứng tỏ anh Kh không có thiện chí đoàn tụ, từ đó cho thấy hôn nhân của chị V và anh Kh lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V, cho chị V được ly hôn với anh Kh.

Về con chung: Xét yêu cầu của chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Dương Thảo Ng, sinh ngày 28/6/2017. Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chung cho cha hay mẹ phải xuất phát từ quyền lợi về mọi mặt để đảm bảo cho con chung có điều kiện sống tốt nhất, từ khi chị V và anh Kh sống ly thân với nhau một thời gian dài chị V là người trực tiếp nuôi con, hiện tại cháu cũng có cuộc sống ổn định và phát triển tốt. Trên cơ sở cân nhắc quyền lợi về mọi mặt của con chung, về điều kiện nuôi con của chị V, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Dương Thảo Ng, sinh ngày 28/6/2017 cho chị V được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Anh Kh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Do đó chị V yêu cầu anh Kh cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ được chấp nhận. Buộc anh Kh có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Dương Thảo Ng, sinh ngày 28/6/2017 mỗi tháng 745.000đ/cháu, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/3/2023) đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung, nợ: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Chị V phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; anh Kh phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Dương Thị Thùy V được ly hôn với anh Nguyễn Trường Kh.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Dương Thảo Ng, sinh ngày 28/6/2017 cho chị V được tiếp tục chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Trường Kh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được quyền ngăn cản.

3. Về cấp dưỡng: Buộc anh Kh có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Dương Thảo Ng, sinh ngày 28/6/2017 mỗi tháng 745.000đ/cháu, thời điểm cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/3/2023) đến khi cháu Ng đủ 18 tuổi.

4. Về tài sản chung và nợ: Đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị V phải nộp 300.000đ; chị V đã dự nộp 300.000đ tại biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005508 ngày 11/11/2022 được chuyển thu án phí trong giai đoạn thi hành án. Buộc anh Nguyễn Trường Kh phải nộp 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.

6. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ