vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị H:

1- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mai Thị H ly hôn anh Nguyễn Văn T. 2- Về con chung: Xử giao cho anh Nguyễn Văn T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con Nguyễn Thế V, sinh 29/11/2006 và Nguyễn Mai H, sinh 29/10/2012 cho đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Ma… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị H:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12/7/2023
“ Về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG - TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử (HĐXX) sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Xuân Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Ngọc Vạn; ông Vũ Duy Tuần.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hải Loan.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Ninh Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 178/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2022, về việc tranh chấp hôn nhân gia đình, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17/5/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09/6/2023; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19/6/2023 giữa:

Nguyên đơn: Chị Mai Thị H, sinh năm 1986 - Địa chỉ: phường Phố Mới, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh - Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1975 (tên gọi khác: Nguyễn Văn N, Nguyễn Gia T) - Địa chỉ: Thôn Trịnh Xuyên, xã Nghĩa An, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, chị Mai Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn ngày 05/07/2006 tại UBND thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường Phố Mới, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh). Vợ chồng chung sống đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp, vì thế chị đã về sống với bố mẹ đẻ, đến cuối năm 2017 chị đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài, năm 2022 chị về nước nhưng không chung sống với anh T. Do mâu thuẫn trầm trọng, ly thân đã lâu, tình cảm không còn nên chị xin ly hôn anh T. Về con chung: Chị và anh T có 02 con là Nguyễn Thế V, sinh 29/11/2006 và Nguyễn Mai H, sinh 29/10/2012 hiện nay đang do anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Do thu nhập và chỗ ở không ổn định nên ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con cho anh T

1

tiếp tục nuôi dưỡng, chị sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 1.000.000đ/tháng/con, cả hai con là 2000.000đ/tháng. Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Lời khai của anh Nguyễn Văn T xác nhận về thời gian kết hôn, thời gian sống ly thân, lý do mâu thuẫn vợ chồng và về con chung như chị H trình bày. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, tuy nhiên anh không nhất trí ly hôn vì từ khi chị H đi nước ngoài đến nay không có trách nhiệm với con, nếu chị H nuôi hai con thì anh nhất trí ly hôn. Anh không muốn gặp chị H, không có thời gian đến Tòa án làm việc. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T xác định không yêu cầu giải quyết.

Đại diện VKSND huyện Ninh Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đảm bảo đúng các thủ tục tố tụng, đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mai Thị H ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Xử giao cho anh Nguyễn Văn T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con Nguyễn Thế V, sinh 29/11/2006 và Nguyễn Mai H, sinh 29/10/2012 cho đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Mai Thị H cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn T 1.000.000đ/con/tháng, cả hai con là 2.000.000đ/tháng. Về án phí: Chị Mai Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn và 300.000 đồng án phí về việc cấp dưỡng nuôi con, chị Mai Thị H còn phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. HĐXX xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị H và anh Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn ngày 05/07/2006 tại UBND thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (nay là phường Phố Mới, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh), đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn các đương sự đều thừa nhận vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay, tình cảm không còn, do vậy cần xử cho chị Mai Thị H ly hôn anh Nguyễn Văn T là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

2

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thế V, sinh 29/11/2006 và Nguyễn Mai H, sinh 29/10/2012. Xét thấy cả hai con do anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, học tập, con đều có nguyện vọng được ở cùng bố. Về điều kiện chỗ ở, thu nhập anh T ổn định hơn chị H, đảm bảo cho việc nuôi con một cách tốt nhất, do vậy HĐXX giao cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục nuôi dưỡng cả hai con, chấp nhận sự tự nguyện của chị Mai Thị H cấp dưỡng cho anh Nguyễn Văn T nuôi con 1.000.000đ/con/tháng, cả hai con là 2.000.000đ/tháng cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị Mai Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và án phí về việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị H:

1- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mai Thị H ly hôn anh Nguyễn Văn T.

2- Về con chung: Xử giao cho anh Nguyễn Văn T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con Nguyễn Thế V, sinh 29/11/2006 và Nguyễn Mai H, sinh 29/10/2012 cho đến khi đủ 18 tuổi. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Mai Thị H cấp dưỡng nuôi con cho anh Nguyễn Văn T 1.000.000(Một triệu đồng)/con/tháng, cả hai con là 2.000.000(Hai triệu đồng)/tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 8/2023 cho đến khi con trưởng thành, chị Mai Thị H có quyền đi lại, thăm nom con, không ai được ngăn cản.

Kể từ ngày anh Nguyễn Văn T có đơn yêu cầu thi hành án về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con, nếu chị Mai Thị H chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán. Lãi suất phát sinh do chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự. Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

3-Về án phí: Chị Mai Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn và 300.000 đồng án phí về việc cấp dưỡng nuôi con, đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Mai Thị H đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu số AA/2020/0000277 ngày

3

17/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, chị Mai Thị H còn phải nộp 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

4-Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị H và anh Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ