vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng về việc xin ly hôn với ông Phạm Văn H. Cho bà Nguyễn Thị Ng được ly hôn với ông Phạm Văn H.

Về con chung, chia tài sản chung và công nợ: Không đặt ra xem xét. Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng nguyên đơn chịu, nguyên đơn có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí số 0015811 ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Chi c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án hôn nhân sơ thẩm"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng về việc xin ly hôn với ông Phạm Văn H. Cho bà Nguyễn Thị Ng được ly hôn với ông Phạm Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NĂM CĂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-03-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Đính

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phan Thị Trang Phượng;

Ông Vũ Xuân Chính.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Công là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

Ngày 30 tháng 3 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 285/2022/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 22/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 3 năm 2023, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm: 1983 (xin vắng).

- Bị đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm: 1976 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ng trình bày:

Về hôn nhân: Năm 2003, bà Ng và ông Phạm Văn H chung sống với nhau, đến năm 2015 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau. Vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông H rượu chè bê tha không chăm sóc gia đình, khuyên không được nên vợ chồng sống ly thân từ năm 2016 cho đến nay. Khi sống ly thân cũng không hòa giải được, thời gian sống ly thân lâu cũng hết tình cảm nên xin được ly hôn với ông H.

Về con chung: Chưa có.

Về tài sản, nợ thu và nợ trả: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn ông Phạm Văn H, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thời thời hạn pháp luật quy định đương sự không có văn bản trả lời, Tòa án thông báo phiên họp, phiên hòa giải 02 lần đương sự vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Bị đơn ông Phạm Văn H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng đương sự vẫn vắng mặt, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt bị đơn là có căn cứ.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ng và ông Phạm Văn H cưới nhau năm 2003, đến năm 2015 mới đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số 37/2015 quyển số 01/2015 ngày 13 tháng 8 năm 2015 của UBND xã H, vì vậy quan hệ hôn nhân của ông bà được pháp luật công nhận là vợ chồng kể từ thời điểm đăng ký.

Trong thời gian chung sống với nhau, ông bà có những bất hòa không tự hàn gắn được, theo trình bày của bà Ng thì nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, hay cãi nhau, ông H thường xuyên rượu chè không chăm sóc gia đình, khuyên không được, năm 2016 ông bà sống ly thân. Từ khi sống ly thân đến nay cũng không hòa giải được, bà Ng yêu cầu ly hôn, ông H vắng mặt nên không có ý kiến. Thấy rằng, ông H không có thiện chí hàn gắn hôn nhân, Tòa án mời hòa giải 02 lần ông H đều vắng mặt, nên Tòa án không hòa giải được. Xét thấy hôn nhân của ông bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì cũng không đem lại hạnh phúc cho đôi bên, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ng, cho bà Ng được ly hôn với ông H.

Về con chung: Không có nên không đặt ra xem xét.

Về chia tài sản chung và công nợ: Căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch nguyên đơn phải chịu, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ng về việc xin ly hôn với ông Phạm Văn H. Cho bà Nguyễn Thị Ng được ly hôn với ông Phạm Văn H.

- Về con chung, chia tài sản chung và công nợ: Không đặt ra xem xét.

- Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng nguyên đơn chịu, nguyên đơn có nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí số 0015811 ngày 21 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn được đối trừ, án phí sơ thẩm nguyên đơn nộp đủ.

Án xử sơ thẩm, các đương sự vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ