vanban.org

Bản án 21/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lộc Thị X được ly hôn với anh Lành Văn C. (Giấy chứng nhận kết hôn số 04, quyển số 01/2012, đăng ký ngày 22/01/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn).

Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Lành Thị H sinh ngày 25/9/2012, cháu Lành Thu Đ sinh ngày 02/6/2014 và cháu Lành Quang K sinh ngày 30/5/2019 cho anh Lành Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị Lộc Thị X chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lành Văn C không yê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lộc Thị X - Lành Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lộc Thị X được ly hôn với anh Lành Văn C. (Giấy chứng nhận kết hôn số 04, quyển số 01/2012, đăng ký ngày 22/01/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST
Ngày 22-8-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Huyền Trang;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Chu Mai Hương;

2. Ông Vi Văn Thanh.

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Slỉnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Lương Minh Hợp - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 64/2023/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 7 năm 2023 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lộc Thị X, sinh năm 1984; hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Bị đơn: Anh Lành Văn C, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 03/7/2023, các lời khai sau đó và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Lộc Thị X trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Trước khi kết hôn chị Lộc Thị X và anh Lành Văn C không được tự do tìm hiểu nhau mà tiến tới hôn nhân do gia đình mai mối. Anh chị tự nguyện kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức hôn lễ theo phong tục vào năm 2012. Ngày 22/01/2014, anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân là do anh Lành Văn C không tu chí làm ăn, không chăm lo cho gia đình. Cứ khoảng 2, 3 ngày thì anh Lành Văn C lại uống rượu say và chửi bới, đánh đập chị. Ngay cả khi chị Lộc Thị X vừa sinh con được 40 ngày thì anh Lành Văn C vẫn đánh chị. Chị Lộc Thị X nhiều lần mang con bỏ về nhà bố mẹ đẻ nhưng vì thương con còn nhỏ nên chị quay về chung sống với anh Lành Văn C. Mặc dù chị đã chịu đựng vì con và nhiều lần khuyên bảo nhưng anh Lành Văn C không thay đổi mà còn đánh đập chị nhiều hơn. Năm 2017, chị bị anh Lành Văn C cầm gậy đuổi đánh khiến chị ngã xuống ruộng, lưng đập vào đá nhưng chị vẫn cố chạy về nhà mẹ đẻ. Sau đó, do sức khỏe yếu nên chị nằm liệt 02 tháng ở nhà mẹ đẻ để chữa trị. Đến nay, sức khỏe chị chỉ hồi phục một phần, tuy chị đã đi lại được nhưng chân bị tật khập khiễng. Do không thể chung sống được với anh Lành Văn C nên chị Lành Thị Xuân phải đi làm xa, thi thoảng chị mới về thăm con và gửi tiền cho anh Lành Văn C nuôi con. Nay, chị Lộc Thị X xác định, vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với anh Lành Văn C. Chị Lộc Thị X yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lành Văn C để chị được giải thoát khỏi cuộc hôn nhân này.

Về con chung: Anh chị có 03 con chung là cháu Lành Thị H sinh ngày 25/9/2012, cháu Lành Thu Đ sinh ngày 02/6/2014 và cháu Lành Quang K sinh ngày 30/5/2019. Hiện nay các con đang sống cùng anh Lành Văn C tại Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Tại đơn khởi kiện chị Lộc Thị X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả 03 con đến khi con đủ 18 tuổi và không yêu cầu anh Lành Văn C cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, do anh Lành Văn C yêu cầu được trực tiếp nuôi cả 03 con chung và các con có nguyện vọng sống cùng anh Lành Văn C nên chị Lộc Thị X nhất trí để anh Lành Văn C được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con chung là cháu Lành Thị H sinh ngày 25/9/2012, cháu Lành Thu Đ sinh ngày 02/6/2014 và cháu Lành Quang K sinh ngày 30/5/2019 đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Lộc Thị X chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lành Văn C không yêu cầu.

Về tài sản chung: Chị Lộc Thị X không yêu cầu Tòa án giải quyết. Thời gian chung sống anh chị không vay nợ ai.

Quá trình giải quyết và tại phiên tòa, anh Lành Văn C trình bày: Về điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn vợ chồng như chị Lộc Thị X trình bày là đúng. Do anh Lành Văn C không làm chủ được bản thân khi uống rượu say nên mới chửi bới, đánh đập chị Lộc Thị X nhưng anh chỉ đánh chị khoảng 01 (một) lần mỗi tháng chứ không phải đánh chị thường xuyên. Từ năm 2022 đến nay, sau khi được chính quyền địa phương nhắc nhở anh Lành Văn C không uống rượu nữa. Anh Lành Văn C cam kết sẽ không đánh đập chị Lộc Thị X, sẽ tu chí làm ăn, chăm lo cho gia đình và kiếm tiền chữa bệnh cho chị Lộc Thị X. Anh Lộc Văn Cắm mong muốn vợ chồng hàn gắn lại tình cảm, đoàn tụ để cùng nuôi dưỡng, chăm sóc cho các con. Vì vậy, anh Lành Văn C không đồng ý ly hôn với chị Lộc Thị X.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Lành Thị H sinh ngày 25/9/2012, cháu Lành Thu Đ sinh ngày 02/6/2014 và cháu Lành Quang K sinh ngày 30/5/2019. Hiện nay các con đều đang sống cùng anh Lành Văn C tại nhà riêng ở Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Cả 03 con chung đang học tại Trung tâm Từ thiện và hướng nghiệp P, địa chỉ: Thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Vào cuối tuần và dịp nghỉ lễ, tết các con mới về chung sống với anh Lành Văn C. Do anh Lành Văn C có nhà riêng, có công việc nông nghiệp và làm công nhân tại tỉnh Bắc Giang có thu nhập khoảng 6.000.000 đồng/tháng nên anh Lành Văn C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cả 03 con chung là cháu Lành Thị H sinh ngày 25/9/2012, cháu Lành Thu Đ sinh ngày 02/6/2014 và cháu Lành Quang K sinh ngày 30/5/2019 đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Lành Văn C không yêu cầu chị Lộc Thị X cấp dưỡng nuôi con vì các con học tại Trung tâm Từ thiện và hướng nghiệp P đã được hỗ trợ toàn bộ chi phí sinh hoạt và học tập. Anh Lành Văn C không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung. Anh chị không vay nợ ai trong thời gian sống chung.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/7/2023, cháu Lành Thị H và cháu Lành Thu Đ đều trình bày nếu bố mẹ ly hôn các cháu mong muốn được tiếp tục sống với bố là anh Lành Văn C.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị Lộc Thị X và anh Lành Văn C kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm, yêu thương nhau. Xảy ra tình trạng bạo lực gia đình, chị Lộc Thị X bị tổn thương cả tinh thần và thể chất. Chị Lộc Thị X xin ly hôn với anh Lành Văn C là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Lộc Thị X được ly hôn với anh Lành Văn C. Về con chung: Chị Lộc Thị X và anh Lành Văn C có 03 con chung là cháu Lành Thị H sinh ngày 25/9/2012, cháu Lành Thu Đ sinh ngày 02/6/2014 và cháu Lành Quang K sinh ngày 30/5/2019 hiện đang sống với anh Lành Văn C và hai cháu Lành Thị H, Lành Thu Đ có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng với anh Lành Văn C. Cả chị Lộc Thị X và anh Lành Văn C đều thống nhất để anh Lành Văn C trực tiếp nuôi cả 03 con và anh Lành Văn C có chỗ ở, có thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật Hôn nhân và gia đình, giao 03 con chung là cháu Lành Thị H sinh ngày 25/9/2012, cháu Lành Thu Đ sinh ngày 02/6/2014 và cháu Lành Quang K sinh ngày 30/5/2019 cho anh Lành Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi; chị Lộc Thị X chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lành Văn C không yêu cầu. Về tài sản chung và nợ chung: Không đề nghị xem xét giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con vì vậy quan hệ pháp luật là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lành Văn C cư trú tại Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Do đó, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lộc Thị X và anh Lành Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn vào ngày 06/10/2008. Như vậy, quan hệ hôn nhân của chị Lộc Thị X và anh Lành Văn C là hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không quan tâm, yêu thương nhau mà xảy ra bạo lực gia đình nhiều lần trong thời gian dài (từ năm 2012 đến năm 2022) khiến chị Lộc Thị X bị tổn thương thể chất và tinh thần nặng nề. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, mặc dù anh Lành Văn C cam kết sẽ không uống rượu, không xảy ra tình trạng bạo lực gia đình và mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng chị Lộc Thị X vẫn cương quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của chị Lộc Thị X và anh Lành Văn C đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị Lộc Thị X là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về con chung: Chị Lộc Thị X và anh Lành Văn C có 03 con chung là cháu Lành Thị H sinh ngày 25/9/2012, cháu Lành Thu Đ sinh ngày 02/6/2014 và cháu Lành Quang K sinh ngày 30/5/2019 hiện đang sống cùng anh Lành Văn C. Cả chị Lộc Thị X và anh Lành Văn C đều thống nhất ý kiến đề nghị giao cả 03 con chung là cháu Lành Thị H sinh ngày 25/9/2012, cháu Lành Thu Đ sinh ngày 02/6/2014 và cháu Lành Quang K sinh ngày 30/5/2019 cho anh Lành Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi; anh Lành Văn C không yêu cầu chị Lộc Thị X cấp dưỡng nuôi con. Cháu Lành Thị H và Lành Thu Đ có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng anh Lành Văn C. Xét thấy, anh Lành Văn C có việc làm, có chỗ ở ổn định nên đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển đầy đủ về mọi mặt cho trẻ em, cần giao 03 con chung là cháu Lành Thị H sinh ngày 25/9/2012, cháu Lành Thu Đ sinh ngày 02/6/2014 và cháu Lành Quang K sinh ngày 30/5/2019 cho anh Lành Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị Lộc Thị X chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lành Văn C không yêu cầu. Chị Lộc Thị X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở chị thực hiện quyền này.

Về tài sản chung: Cả chị Lộc Thị X và anh Lành Văn C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Về nợ chung: Cả chị Lộc Thị X và anh Lành Văn C đều trình bày không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn chị Lộc Thị X được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm vì là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn án phí.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, 14, 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lộc Thị X được ly hôn với anh Lành Văn C. (Giấy chứng nhận kết hôn số 04, quyển số 01/2012, đăng ký ngày 22/01/2014 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lạng Sơn).

2. Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Lành Thị H sinh ngày 25/9/2012, cháu Lành Thu Đ sinh ngày 02/6/2014 và cháu Lành Quang K sinh ngày 30/5/2019 cho anh Lành Văn C trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi.

Chị Lộc Thị X chưa phải cấp dưỡng nuôi con do anh Lành Văn C không yêu cầu. Chị Lộc Thị X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Lộc Thị X thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Nguyên đơn chị Lộc Thị X phải được miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ