- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị trúc L "ly hôn" Lê Quốc K"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trúc L.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST Ngày: 13 – 01 – 2023 V/v “Tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Hữu Q
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Chí L
Bà Trần Thị Đ
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Y là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An.
Ngày 13 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1105/2022/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2022 về “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 410/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Trúc L , sinh năm 1990.
Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Lê Quốc K, sinh năm 1993.
Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Bà L xin vắng mặt, ông K vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/11/2022, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Trúc L trình bày: Bà và ông Lê Quốc K là vợ chồng cưới nhau từ năm 2018, đến ngày 27/9/2018 có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã M cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Quá trình chung sống không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, cải vã, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, nên bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lê Quốc K.
Về nuôi con chung: Trong quá trình chung sống, bà và ông K không có con chung.
Về chia tài sản: Bà L xác định bà và ông K không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà L xác định bà và ông K không có nợ ai.
Bị đơn là ông Lê Quốc K được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện việc bà L yêu cầu được ly hôn với ông K nhưng ông K vẫn vắng mặt không có văn bản ý kiến trình bày đối với các yêu cầu khởi kiện của bà L.
Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Trúc L khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Lê Quốc K. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp về hôn nhân và gia đình; Ông K hiện đang cư trú tại xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. Thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Trúc L có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Trúc L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn là ông Lê Quốc K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Trúc L:
Về hôn nhân: Xét thấy, bà Nguyễn Thị Trúc L và ông Lê Quốc K tự nguyện sống chung và đã đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 130/2018 đăng ký ngày 27/9/2018 do Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, tỉnh Long An cấp, nên xác định hôn nhân giữa bà L và ông K là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Xét thấy, quá trình chung sống giữa bà L và ông K đã phát sinh mâu thuẫn với những nguyên nhân do bà L trình bày. Ông K đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án thể hiện việc bà L yêu cầu được ly hôn với ông K tại Tòa án, nhưng ông K vẫn không có ý kiến, luôn vắng mặt, không thể hiện ý chí muốn đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ mẫu thuẫn tình cảm giữa bà L và ông K là có thật, quan hệ hôn nhân của hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, việc bà L cương quyết ly hôn với ông K là có cơ sở, nên chấp nhận cho bà L được ly hôn với ông K là hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Do ông K không có ý kiến trình bày. Ghi nhận bà L xác định không có con chung, Tòa án không đề cập giải quyết.
Về chia tài sản chung: Do ông K không có ý kiến trình bày. Ghi nhận bà L xác định không có tài sản chung, Tòa án không đề cập giải quyết. Nếu sau này, các bên đương sự có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.
Về nợ chung: Do ông K không có ý kiến trình bày. Ghi nhận bà L xác định không có nợ chung, Tòa án không đề cập giải quyết, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì hai bên phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.
Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Trúc L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Trúc L.
1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Trúc L được ly hôn với ông Lê Quốc K.
2. Về nuôi con chung và mức cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.
3. Về chia tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Trúc L phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nộp ngân sách Nhà Nước, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007206 ngày 08/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Long An. Bà L đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông K không phải chịu án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt hợp lệ bản án.
7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đ; - Chi cục THADS huyện Đ; - UBND xã M (để ghi vào sổ hộ tịch); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Q |