- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "nhung tan"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn N được ly hôn với anh Ngô Duy T.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:21/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19/7/2023 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ung Thị Ngọc Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Bà Lương Thị Thu An
2.Bà Hồ Thị Xuân Thiều
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Vi là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chơn Thành tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Sách - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 41/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn N, sinh năm 1992; HKTT: Kp 9, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; chổ ở hiện nay: Khu phố Trung Lợi, phường Hưng Long, thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước (vắng mặt);
2. Bị đơn: Anh Ngô Duy T, sinh năm 1991; Địa chỉ cư trú: Kp 9, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn chị Nguyễn N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu chị N và anh T quyết định chung sống với nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật vào năm 2012. Trước khi chung sống cả hai còn độc thân, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn thì hai vợ chồng sống chung với nhau tại kp 9, phường H, thị xã C sau đó đến năm 2022 thì vợ chồng chuyển về kp Trung Lợi, phường C, thị xã C, tỉnh Bình Phước sống. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn, cải vã. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên chơi bời, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Chị N cũng đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T không nghe. Đến tháng 02/2023 do vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn nên anh T đã bỏ về nhà ba mẹ ruột sống và hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay chị N cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị N được ly hôn với anh T.
Về con chung: Có 01 con chung tên Ngô A, sinh ngày 21/3/2012. Chị N yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về nợ chung: Không có
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Ngô Duy T trình bày: Mặc dù anh T đã được Tòa án nhiều lần triệu tập hợp lệ để làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh T vắng mặt không lý do nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của anh T được.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị Nguyễn N xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Ngô Duy T vắng mặt không có lý do
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành phát biểu ý kiến.
+ Về tố tụng: Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về việc thu thập chứng cứ, giải quyết vụ án từ khi, nhận đơn, thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử mở phiên toà. Tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
+ Việc tuân thủ pháp luật của những người tham gia tố tụng:
Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 234 BLTTDS còn bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70,72 và Điều 234 BLTTDS.
+ Quan điểm về giải quyết vụ án:
Vụ án thuộc trường hợp kiểm sát viên phải tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21, Điều 97 BLTTDS
Qua nghiên cứu hồ sơ, tài liệu xét thấy: Chị N và anh T chung sống với nhau vào năm 2011 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống xét thấy anh chị thường xuyên mâu thuẫn và không còn quý trọng, quan tâm chăm sóc, yêu thương nhau nữa làm cho đời sống vợ chồng lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng.
Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 56 luật hôn nhân và gia đình
Căn cứ vào lời khai nguyên đơn và các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án
Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử cho chị Nguyễn N được ly hôn với anh Ngô Duy T.
Về con chung: Đề nghị HĐXX giao con chung Ngô A cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng. Không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí nguyên đơn chịu theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về thủ tục tố tụng
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu trong suốt quá trỉnh giải quyết vụ án của nguyên đơn chị Nguyễn N, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn anh Ngô Duy T có nơi cư trú tại Kp 9, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn N có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Ngô Duy T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn N, Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị Nguyễn N và anh Ngô Duy T tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước theo đúng quy định pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị N cho rằng vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cải vã nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T thường xuyên chơi bời, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con. Chị N cũng đã nhiều lần khuyên bảo nhưng anh T không nghe. Đến tháng 02/2023 do vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nên anh T đã bỏ về nhà ba mẹ tại kp 9, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước và hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Điều này hoàn toàn phù hợp với biên bản xác minh ngày 19/5/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng đã mở phiên hòa giải để động viên, thuyết phục và hàn gắn cho chị N, anh T nhưng anh T vắng mặt không lý do còn chị N vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn. Xét thấy, giữa chị N và anh T không còn quan tâm nhau và cũng không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị N cho chị N được ly hôn với anh T.
Về con chung: Quá trình chung sống chị N và anh T có 01 con chung tên Ngô A, sinh ngày 21/3/2012. Chị N yêu cầu giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng trong khi anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không thể ghi nhận ý kiến của anh T. Mặt khác từ khi hai vợ chồng sống ly thân đến nay cháu A được chị N trực tiếp nuôi dưỡng và nguyện vọng của cháu A được sống chung với mẹ. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của chị N, giao con chung là Ngô N cho chị N trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không có ý kiến gì về cấp dưỡng nuôi con và anh T không có ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Chị N và anh T không yêu cầu nên Không xem xét giải quyết
Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn N phải chịu là 300.000 đồng.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 143, Điều 144, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83,84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn N được ly hôn với anh Ngô Duy T.
2. Về con chung: Giao con chung Ngô A, sinh ngày 21/3/2012 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.
3. Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết
4. Về nợ chung: Không có
5. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0012250 ngày 04/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
6. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Chơn Thành; - Chi cục THADS thị xã Chơn Thành; - UBND P. H, TX C - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨMThẩm phán - Chủ tọa phiên tòa THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ung Thị Ngọc Thanh |