- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly-Hưng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mai A về việc tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2023/HNGĐ-ST Ngày 13-10-2023 Về việc: tranh chấp ly hôn và nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Mùa
Ông Phan Tấn Lãm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Ngọc Ánh – Thẩm tra viên
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tham gia phiên toà: Ông Đặng Hữu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 10 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 61/2023/TLST- HNGĐ ngày 22 tháng 6 năm 2023 về việc tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 9 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 51/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mai A, sinh năm 2000; nơi cư trú: khu phố 2, phường LT, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức B, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn BĐ 1, xã ĐH, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 6 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Mai A trình bày:
Bà Phạm Thị Mai A và ông Nguyễn Đức B tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐH, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (theo giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 19 tháng 7 năm 2018). Thời gian chung sống, vợ chồng không có hạnh phúc mà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng cãi vã do ông B thường xuyên sử dụng chất kích thích. Do đó, bà A thấy rằng không cảm nhận được sự yêu thương, lo lắng từ ông B, gia đình và bà A đã khuyên bảo nhiều lần nhưng ông B không nghe, không chịu sửa chữa. Nay bà A xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn gia đình chở nên trầm trọng nên bà A yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Nguyễn Đức B.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, giữa bà A và ông B có 01 người con chung là Phạm Đức C, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2018. Sau khi ly hôn bà A có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Phạm Đức C cho đến khi trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung: Bà A không yêu cầu.
Bị đơn ông Nguyễn Đức B vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa :
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa:
Trong quá trình giải quyết vụ Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự thủ tục và đảm bảo quyền lợi của các đượng sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn ông Nguyễn Đức B vẫn vắng mặt không có lý do. Và qua xem xét tại hồ sơ và các tài liệu bà A cung cấp là phù hợp với quy định pháp luật.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, 36, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 55, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn bà Phạm Thị Mai A.
Về con chung: Giao con chung Phạm Đức C, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2018 cho bà Phạm Thị Mai A trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Các vấn đề khác giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Xác định đây là vụ án tranh chấp“ly hôn và nuôi con chung” do bà Phạm Thị Mai A đứng đơn khởi kiện, bị đơn là ông Nguyễn Đức B cư trú tại: Thôn BĐ 1, xã ĐH, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 36 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
Về việc vắng mặt đương sự: Bị đơn ông Nguyễn Đức B vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần, nên xem như ông B từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông B theo thủ tục chung.
Phân tích nội dung tranh chấp:
Về quan hệ hôn nhân: Theo lời trình bày của nguyên đơn là bà A cho thấy, bà và ông B tự nguyện chung sống với nhau và có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐH, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước (theo giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 19 tháng 7 năm 2018). Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông B được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng bà A và ông B không có hạnh phúc mà thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, ông B sử dụng chất kích thích nên vợ chồng thường xuyên cãi vã. Tại phiên tòa, bà A cho rằng giữa bà và ông B đã cố gắng hòa giải bà và gia đình đã khuyên bảo ông B nhiều lần nhưng không được, ông B vẫn tiếp tục uống rượu, do vậy mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Nay bà A xác định không còn tình cảm với ông B, Mặc dù tại phiên tòa không có mặt ông B nhưng bà A vẫn giữ nguyên quan điểm và yêu cầu được ly hôn với ông B. Do đó Hội đồng xét xử nhận thấy, tình trạng hôn nhân giữa bà A và ông B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, từ lâu không còn ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà A.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, bà A và ông B có 01 người con chung là cháu Phạm Đức C, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2018. Quá trình thu thập chứng cứ và lời khai của bà A tại phiên tòa có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu C cho đến khi đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy, đối với cháu C hiện nay đang còn nhỏ và đang sống cùng mẹ là bà A. Do đó, để đảm bảo sự phát triển toàn diện của con chung nên cần giao cháu C cho bà A tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Bà A phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 36; Điều 39; Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào các Điều 51, 55, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mai A về việc tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung”.
2. Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mai A được ly hôn với ông Nguyễn Đức B.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phạm Đức C, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2018 cho bà Phạm Thị Mai A tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, các bên đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con nếu có căn cứ cho rằng mình hoặc bên kia không đáp ứng được quyền lợi cho con.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung: Không xem xét
3. Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị Mai A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006527 ngày 22 tháng 6 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Bù Gia Mập; - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập; - UBND xã ĐH; - Các đương sự; - Lưu HS. | Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Văn Phú Vinh |