vanban.org

Bản án 21/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc ông Phan Văn Bphải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng C số tiền tạm tính đến ngày 23/8/2023 là 62.

Kể từ ngày 24/8/2023, ông Phan Văn Bcòn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Buộc ông Phan Văn Bphải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng C số tiền tạm tính đến ngày 23/8/2023 là 62.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2023/DS - ST.
Ngày: 23 - 8 - 2023.
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆNCHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Thanh Hoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Danh.

Ông Lâm Ngọc Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Tú Lệ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Kim Thị Cẩm Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2023/TLST-DS ngày 01/3/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2023/QĐXXST - DS, ngày 13 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng C; địa chỉ: Phố L, phường H, quận H1, thành phố Hà Nội.

Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị H – Phó giám đốc phòng giao dịch Ngân hàng C; địa chỉ: Ấp Trà Q, thị trấn C, huyện C1, tỉnh Sóc Trăng là người đại diện theo ủy quyền cho nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 59/UQ –NHCS ngày 07/02/2022) (Vắng mặt vì có đơn xin giải quyết vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Phan Văn Bào, sinh năm 1970; đi ̣a chỉ: Ấp An Tập, xã Thiện Mỹ, huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lâm Thị T; đi ̣a chỉ: Ấp An T, xã T1, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện lập ngày 01/3/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại đơn xin xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bà Trần Thị Htrình bày: Vào ngày 04/5/2019, ông Phan Văn Bcó làm giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất và khế ước nhận nợ để vay của Ngân hàng C (gọi tắt là: Ngân hàng) số tiền 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng), mục đích vay là mua bán cừ tràm, lãi suất là 0,75%/tháng, lãi quá hạn là 0.975%/tháng.Thời hạn vay là 34 tháng, ngày trả nợ cuối cùng là ngày 04/3/2022. Sau khi vay ông Bào có đóng lãi cho ngân hàng số tiền lãi là 1.476.878 đồng (một triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn tám trăm bảy mươi tám đồng). Tuy nhiên, đến hạn trả nợ, ông Bào không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng và nhiều lần yêu cầu ông Bào thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng không thực hiện.

Nay Ngân hàng C yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Phan Văn Bphải thực hiện nghĩa vụ trả nợ với tổng số tiền còn nợ đã quá hạn tính đến ngày 23/8/2023 là 62.612.510 đồng (Sáu mươi hai triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm mười nghìn đồng), bao gồm 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng) tiền nợ gốc và 17.612.510 đồng (mười bảy triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm mười đồng) tiền lãi. Đồng thời, phải trả phần lãi từ ngày 24/8/2023 cho đến khi tất toán hết gốc và lãi.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Xác định đúng quan hệ tranh chấp. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng theo quy định, bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C về việc buộc ông Phan Văn Bphải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng C số tiền tính đến ngày 23/8/2023 là 62.612.510 đồng (Sáu mươi hai triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm mười nghìn đồng), bao gồm 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng) tiền nợ gốc và 17.612.510 đồng (mười bảy triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm mười đồng) tiền lãi. Ngoài ra, ông Phan Văn Bcòn phải chịu lãi phát sinh theo hợp đ6òng từ ngày 24/8/2023 cho đến khi thanh toán hết nợ. Ông Bào phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Phan Văn Bvà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và giấy triệu tập xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Phan Văn Bào, bà Lâm Thị T vẫn không có văn bản trả lời và vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Phan Văn Bào, bà Lâm Thị T.

Mặt khác, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Hcó đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Trần Thị Huê.

. Xét yêu cầu của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng). Hội đồng xét xử xét thấy: Để chứng minh cho yêu cầu của mình nguyên đơn cung cấp cho Tòa án chứng cứ là sổ vay vốn; sổ lưu tờ rơi theo dõi cho vay – thu nợ - dư nợ; giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 02/5/2019 có chữ ký của bị đơn ở mục bên vay và các giấy tờ khác có liên quan. Xét thấy, tại thời điểm ký kết, các bên tham gia ký kết hợp đồng có đủ thẩm quyền và năng lực giao kết hợp đồng; hợp đồng đảm bảo về mặt hình thức và nội dung, không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên có hiệu lực pháp luật về hình thức, nội dung các văn bản này là phù hợp theo quy định pháp luật. Đồng thời, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành niêm yết các tài liệu , chứng cứ mà bên nguyên đơn cung cấp và thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho bị đơn biết nhưng bị đơn không có ý kiến phản đối gì nên Hội đồng xét xử khẳng định bị đơn đã vay và nhận đủ của nguyên đơn số tiền gốc là 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng) là có căn cứ. Vì vậy, việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền vay gốc là 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng) là phù hợp theo quy định tại Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về lãi suất: Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu tính lãi quá hạn tạm tính từ đến ngày 23/8/2023 là 17.612.510 đồng (mười bảy triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm mười đồng) và đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay ngày 02/5/2019 trong đó có nêu lãi suất trong hạn 9%/năm (tương đương 0,75%/tháng), lãi quá hạn là 130% lãi suất khi cho vay (tương đương 0.975%/tháng). Lãi suất do các bên thỏa thuận phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Mặt khác, theo bảng tính lãi chưa thu đến ngày 23/8/2023 của nguyên đơn cung cấp thì sau khi vay từ ngày 04/5/2019 đến ngày 04/9/2019 bị đơn đã trả tiền lãi là 1.476.878 đồng (một triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn tám trăm bảy mươi tám đồng) và từ ngày 05/9/2019 cho đến nay bị đơn không thanh toán . Do vậy, việc bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ gốc và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm hợp đồng cho vay mà các bên đã ký kết, bị đơn là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Như vậy, bị đơn phải hoàn trả cho Ngân hàng số tiền lãi theo giao kết trong hợp đồng tạm tính đến ngày 23/8/2023 là 17.612.510 đồng (mười bảy triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm mười đồng) là có căn cứ.

Ngoài ra, kể từ ngày 24/8/2023, ông Phan Văn Bcòn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Phan Văn Bphải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay theo Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Từ những phân tích nêu trên, bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn dư nợ tính đến ngày 23/8/2023 số tiền vay gốc là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng), tiền lãi 17.612.510 đồng (mười bảy triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm mười đồng). Tổng cộng là 62.612.510 đồng (Sáu mươi hai triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm mười nghìn đồng).

Theo đơn xin giải quyết vắng mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng trong quá trình vay bà Lâm Thị T không có giao dịch vay với ngân hàng và bà Ngân không có sử dụng số tiền này vào nhu cầu thiết yếu trong gia đình nên Ngân hàng không có yêu cầu bà ngân phải ó trách nhiệm liên đới cùng ông Bào trả số tiền trên nên Hội đồng xét xử không buộc bà Lâm Thị T có trách nhiệm liên đới cùng ông Bào trả số tiền trên là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị đơn ông Phan Văn Bphải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 280, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 này 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Án lệ số 08/2016/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

1. Buộc ông Phan Văn Bphải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng C số tiền tạm tính đến ngày 23/8/2023 là 62.612.510 đồng (Sáu mươi hai triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm mười nghìn đồng), bao gồm 45.000.000 đồng (bốn mươi lăm triệu đồng) tiền gốc và 17.612.510 đồng (mười bảy triệu sáu trăm mười hai nghìn năm trăm mười đồng) tiền lãi.

Kể từ ngày 24/8/2023, ông Phan Văn Bcòn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Phan Văn Bphải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Phan Văn Bphải chịu 3.130.626 đồng (Ba triệu một trăm ba mươi nghìn sáu trăm hai mươi sáu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền giao kết thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ