- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 21/2022/HS-ST Ngày: 14 - 3 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
-T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông: Huỳnh Ngọc Trứ.
2. Ông: Lê Văn Tám.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhàn - Cán bộ Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sanh - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 14 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Anh H, sinh ngày 13/8/1999, tại tỉnh Phú Thọ; Số chứng minh nhân dân:312396663; Hộ khẩu thường trú: khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Nơi cư trú hiện nay: khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Phạm Văn L, sinh năm 1975 và bà: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1975; Bị cáo sống như vợ chồng với chị Lê Thị Thảo N, sinh năm 1998 và có 01 con; Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 21/9/2020, bị Ủy ban nhân dân phường 5 áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 138/QĐ-UBND, thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Về nhân thân: Ngày 14/5/2018, bị Ủy ban nhân dân phường 5 áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo Quyết định số 11/QĐ-UBND, thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/9/2021, chuyển tạm giam từ ngày 05/10/2021 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1975; nơi cư trú: khu phố A, phường B, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 24/9/2021 Phạm Anh H, sinh năm 1999, thường trú khu phố 2, phường 5, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang liên lạc mua ma túy của một đối tượng tên T (chưa rõ nhân thân) nhà ở cầu Bà Tồn (huyện Cai Lậy) với giá 500.000 đồng và hẹn giao ma túy ở khu vực cầu Cai Lậy. Khoảng 18 giờ cùng ngàyH đi bộ đến điểm hẹn nhận ma túy và đưa tiền cho T, H lấy bịch ma túy đem về nhà tại khu phố 2, phường 5, thị xã Cai Lậy cất giấu để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/9/2021H lấy một ít ma túy ra sử dụng một mình tại nhà thì bị Công an thị xã Cai Lậy vào kiểm tra phát hiện bắt quả tangH tàng trữ trái phép chất ma túy cùng vật chứng vụ án.
Vật chứngthu giữ gồm: 01 túi ni lông loại túi zip, kích thước (6,5x4)cm, miệng túi có viền màu đỏ, bên trong có tinh thể màu trắng nghi là ma túy đá; 01 chai nhựa cao 19cm, đường kính chai 5cm, bên trên nắp chai có một nỏ thủy tinh có lớp màng màu xám nghi là ma túy đá, một ống hút bằng nhựa đường kính 0,5cm; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gold; 200.000 đồng.
Kết luận giám định số 213/KLGĐ-PC09 ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:
+ Gói 1: Các mẫu tinh thể màu trắng trong 01 (một) gói nylon màu trắng trong suốt lại zip vuốt mép, có viền màu đỏ một đầu, để trong một bì thư được niêm phong (ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,4542 gam, loại Methamphetamine.
+ Gói 2: Mẫu lớp màng xám trong một (01) đoạn ống thủy tinh dạng nỏ, để trong một bì thư được niêm phong (ký hiệu M2) gửi giám định có khối lượng 0,0017 gam, không đủ điều kiện (khối lượng) để giám định và kết luận có T phần chất ma túy không.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Anh H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, nên không có ý kiến gì đối với nội dung bản cáo trạng và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gold của mẹ bị cáo là bà Nguyễn Thị Y, bị cáo mượn để sử dụng tạm, nhưng bị cáo không có dùng vào việc liên lạc để mua ma túy, khi bị cáo bị bắt về việc tàng trữ trái phép chất ma túy nên điện thoại cũng bị thu giữ luôn. Đối với số tiền 200.000 đồng là tiền của bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Y có ý kiến trình bày như sau: Vào ngày 26/9/2021 bị cáo H nói điện thoại bị rớt mất không có điện thoại để sử dụng, nên bị cáo H mới mượn điện thoại để sử dụng, bà Thúy mới choH mượn điện thoại hiệu Iphone màu vàng gold, nhưng khi bị cáo H bị bắt về việc tàng trữ trái phép chất ma túy và điện thoại cũng bị thu giữ luôn cho đến nay chưa trả lại. Nay bà Thúy xin Hội đồng xét xử xem xét trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gold cho bà Thúy, vì lúc bà Thúy cho bị cáo H mượn là để sử dụng tạm, sau đó sẽ trả lại và bị cáo H không dùng điện thoại này đề liên lạc vào việc mua ma túy. Việc bị cáo H mua ma túy để sử dụng và tàng trữ trong nhà thì bà Thúy không biết.
Bản cáo trạng số 12/CT-VKSTXCL ngày 17 tháng 01 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Phạm Anh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiển sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Phạm Anh H đã thừa nhận hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phạm Anh H về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo H có T khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Anh H từ 01 năm 03 tháng đến 02 năm tù. Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy loại Methamphetamine trong 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 213/1 ghi ngày 28/9/2021, có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Quốc Phong (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Võ T Công (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín chứa 0,3992 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ bao gói nylon màu trắng trong suốt loại Zip đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định và 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 213/2 ghi ngày 28/9/2021 có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Quốc Phong (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Võ T Công (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01đoạn ống thủy tinh dạng nỏ; 01 chai nhựa cao 19cm, đường kính chai 5cm, bên trên nắp chai có một nỏ thủy tinh có lớp màng màu xám nghi là ma túy đá, một ống hút bằng nhựa đường kính 0,5cm. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng gold là tài sản của bà Nguyễn Thị Y mẹ bị cáo, bị cáo H mượn để sử dụng tạm và bị cáo cũng không dùng vào việc thực hiện tội phạm nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bà Nguyễn Thị Y. Đối với số tiền 200.000 đồng đây là tài sản của bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án về nghĩa vụ thi hành đối với bị cáo H theo nội dung phần quyết định của bản án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Anh H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình là: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 26/9/2021, tại khu phố 2, phường 5, thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, Phạm Anh H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tổng khối lượng 0,4542 gam, loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng. Xét lời thừa nhận tội của bị cáo H là phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm nghiện trường, Kết luận giám định số 213/KLGĐ-PC09 ngày 28 tháng 9 năm 2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Như vậy, đã có đủ căn cứ để kết luận bị cáo H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đúng với kết luận luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ quyền công tố tại phiên tòa hôm nay.
Xét về ý thức chủ quan của bị cáo nhận thực được rằng, ma túy là chất gây nghiện, người sử dụng ma túy rất khó từ bỏ, nếu sử dụng lâu dài sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe và tinh thần của người nghiện, làm mất dần khả năng lao động, học tập và làm việc, nó là nguồn gốc làm phát sinh các tệ nạn xã hội, các loại tội phạm khác, làm suy đồi giá trị đạo đức truyền thống, làm tha hóa lối sống thế hệ thanh thiếu niên, tạo gánh nặng cho gia đình và xã hội, nó còn là tác nhân làm lây lan căn bệnh HIV/AISD. Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra tội phạm. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo H với mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thể hiện sự T khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo H nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, không có tài sản. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với đối tượng tên T có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Phạm Anh H. Tuy nhiên, do không biết rõ họ và địa nên cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn M, sinh năm 1965; Nguyễn Thanh N, sinh năm 1995; Trương Mạng Ng, sinh năm 1994; Võ Minh L sinh năm 1990 cùng thường trú khu phố 2, phường 5, thị xã Cai Lậy khai nhận có mua ma túy của Phạm Anh H nhiều lần, còn Phan Thanh T, sinh năm 1987 khai nhận có đem ma túy của H đưa giao cho Nguyễn Văn M, nhưng hiện tại Tùng và Ngọc bỏ địa phương đi không rõ lý do, còn H không thừa nhận có bán ma túy và không quen biết L và N. Ngoài lời khai của các đối tượng không thu giữ được vật chứng liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Do đó, hành vi củaH chưa đủ yếu tố cấu T tội Mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Đối với bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1975, thường trú số 322, khu phố 2, phường 5, thị xã Cai Lậy (mẹ bị cáo H) không biết việcH tàng trữ trái phép chất ma túy trong nhà. Do đó, hành vi của bà Thúy không cấu T tội phạm.
Về xử lý vật chứng: Đối với toàn bộ số ma túy loại Methamphetamine trong 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 213/1 ghi ngày 28/9/2021, có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Quốc Phong (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Võ T Công (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín chứa 0,3992 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ bao gói nylon màu trắng trong suốt loại Zip đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định và 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 213/2 ghi ngày 28/9/2021 có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Quốc Phong (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Võ T Công (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01đoạn ống thủy tinh dạng nỏ; 01 chai nhựa cao 19cm, đường kính chai 5cm, bên trên nắp chai có một nỏ thủy tinh có lớp màng màu xám nghi là ma túy đá, một ống hút bằng nhựa đường kính 0,5cm. Đối với ma túy loại Methamphetamine, là mặt hàng nhà nước quản lý độc quyền cấm cá nhân tàng trữ, vận chuyển, mua bán trên thị trường. Nhưng bị cáo H đã có hành vi tàng trữ trái phép và hiện không có giá trị, nên cần phải tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 200.000 đồng được niêm phong trong 01 bì thư có chữ ký Nguyễn Thị Y, Phạm Anh H, Chế Văn Ngọc Thanh Ngân và Mai Nguyễn Quốc Trung và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA- CÔNG AN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy đang tạm giữ. Xét đây là tài sản của bị cáo H, không phải do phạm tội mà có nên cần tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án về nghĩa vụ thi hành đối với bị cáo H theo nội dung phần quyết định của bản án. Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone màu vàng gold là tài sản của bà Nguyễn Thị Y mẹ bị cáo H, bị cáo H mượn để sử dụng và bị cáo cũng không dùng điện thoại này vào việc thực hiện tội phạm nên trả lại cho bà Nguyễn Thị Y.
Về án phí: Bị cáo Phạm Anh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xét ý kiến và đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình sự:
Tuyên bố bị cáo Phạm Anh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử: Phạt bị cáo Phạm Anh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo H bị tạm giữ là ngày 26/9/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự;Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy loại Methamphetamine trong 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 213/1 ghi ngày 28/9/2021, có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Quốc Phong (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Võ T Công (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín chứa 0,3992 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ bao gói nylon màu trắng trong suốt loại Zip đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định và 01 bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số: 213/2 ghi ngày 28/9/2021 có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Quốc Phong (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên: Võ T Công (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có 01đoạn ống thủy tinh dạng nỏ; 01 chai nhựa cao 19cm, đường kính chai 5cm, bên trên nắp chai có một nỏ thủy tinh có lớp màng màu xám nghi là ma túy đá, một ống hút bằng nhựa đường kính 0,5cm.
- Tiếp tục giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Cai Lậy tạm giữ đối với số tiền 200.000 đồng được niêm phong trong 01 bì thư có chữ ký Nguyễn Thị Y, Phạm Anh H, Chế Văn Ngọc Thanh Ngân và Mai Nguyễn Quốc Trung và hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA- CÔNG AN THỊ XÃ CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG để đảm bảo việc thi hành án về nghĩa vụ thi hành đối với bị cáo H theo nội dung phần quyết định của bản án.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Y 01 điện thoại hiệu Iphone màu vàng gold.
(Vật chứng trên được Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy lập ngày 11/3/2022)
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí .
Bị cáo Phạm Anh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng các điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Cơ quan điều tra thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ, Văn phòng. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phan Thanh Sơn |