vanban.org

Bản án 21/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

X phạt: PHẠM VĂN Đ 01 (một năm tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian th thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phậm quy định về điều khiển giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (điều 202 Bộ lu…"
  • Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình s; Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình s; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN T
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/HS-ST
Ngày : 31/3/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN T - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Lan Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Minh Hiền

Ông Lê Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thùy Dương – Thư Tòa án nhân dân quận T, Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên

Ngày 28 và ngày 31 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân quận T t công hai sơ th m vụ án hình s sơ th m thụ l số 05/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra t

số 23/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

PHẠM VĂN Đ; sinh ngày 24 tháng 10 năm 1980 tại Thái Bình; nơi đăng

thường trú: Thôn M, xã N, huyện D, tỉnh L; nơi cư trú: 140 hu phố H, đường P, phường Th, thành phố H, tỉnh N1; nghề nghiệp: Tài ế; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: inh; tôn giáo: Không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn T1 và bà: Nguyễn Thị L; có vợ: Bùi Thị Tuyết H1 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: không; tiền s : hông; bị bắt, tạm giữ, tạm giam: hông. Bị cáo tại ngoại.

(C mặt)

Bị hại: Ông Nguyễn Đ1, sinh năm 1953, nơi cư trú: 98 đường Tr, phường S, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Đã chết sau tai nạn .

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Bà Nguyễn Thị Ch, sinh năm 1955 là vợ của bị hại, nơi cư trú: 98 đường Tr, phường S, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo hồ sơ vụ án thể hiện tại thời điểm ảy ra tai nạn ông Đ1 c n sống, nhưng tại thời điểm t đã chết

2. Chị Nguyễn Thị Tường V, sinh năm 1977, là con của bị hại, nơi cư trú: 98 đường Tr, phường S, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Chị Nguyễn Thị Quỳnh L2, sinh năm 1979, là con của bị hại, nơi cư trú: 98 đường Tr, phường S, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Chị Nguyễn Khánh Quỳnh N1, sinh năm 1986, là con của bị hại, hộ h u thường trú: 09 đường K, phường Q, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Anh Nguyễn Khánh N2, sinh năm 1988 là con của bị hại, hộ h u thường trú: 98 đường Tr, phường S, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Ch, chị V, chị L2, anh N2: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh N1 (có đơn in t vắng mặt .

Người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần L2 (c đơn in t vắng mặt .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên t a, nội dung vụ án được t m tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 15 phút ngày 20/10/2020, Phạm Văn Đ điều khiển và đỗ xe ô tô biển số 51C- 643.14 tại trước số 85B đường C, Phường M, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, hướng xe từ đường Đ về đường S, Đ vừa mở cánh c a bên trái e ô tô để đi ra ngoài nhưng hông quan sát, cánh c a xe ô tô va chạm vào tay lái bên phải của xe mô tô biển số 52H2-7313 do ông Nguyễn Đ1 (sinh năm 1953 điều khiển lưu thông từ phía sau cùng chiều với hướng xe ô tô của Đ gây tai nạn làm ông Đ1 bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện 115. Đến ngày 15/11/2020, ông Đ1 chết tại bệnh viện.

Tại ết luận giám định pháp y t thi số 1949-20/KLGĐ-PY ngày 21/12/2020 của Ph ng Kỹ thuật hình s Công an Tp. Hồ Chí Minh ết luận: Nguyên nhân chết của ông Nguyễn Đ1 do viêm phổi, suy đa cơ quan và chấn thương sọ não. Kết luận giám định pháp y bổ sung số 1435-21/KLGĐ-PY ngày 06/04/2021 của Phòng kỹ thuật hình s - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Nguyên nhân dẫn đến Nguyễn Đ1 chết do chấn thương sọ não diễn tiến viêm phổi, suy đa cơ quan.

Kết qủa điều tra ác định được nguyên nhân gây tai nạn làm ông Nguyễn Đ1 chết là do Phạm Văn Đ điều khiển xe ô tô tải biển số 51C- 643.14 đỗ xe và mở c a e hông đảm bảo an toàn gây tai nạn giao thông vi phạm điểm đ hoản 3 Điều 18 của Luật giao thông đường bộ, hậu quả ông Nguyễn Đ1 t vong do chấn thương sọ não diễn tiến viêm phổi, suy đa cơ quan.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn Đ đã hai nhận hành vi phạm tội, đồng thời gia đình nạn nhân là bà Nguyễn Khánh Quỳnh Như con ruột ông Nguyễn Đ1 (đại diện hợp pháp của nạn nhân c làm đơn in bãi nại và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình s đối với Đ vì sau khi xảy ra tai nạn, bị can Đ tích c c đưa ông Đ1 đi cấp cứu và chăm s c hi điều trị tại bệnh viện, phía gia đình của Đ đã t nguyện hỗ trợ bồi thường cho gia đình bà Như.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe ô tô tải mang biển số 51C- 643.14; 01 giấy chứng nhận đăng

e ô tô tải biển số 51C- 643.14 mang tên Công ty CP L2 (bản chính); 01 giấy đăng kiểm số KD 3572874 của xe ô tô tải mang biển số 51C- 643.14 (bản chính). Xác minh xe, giấy chứng nhận, giấy đăng iểm là của Công ty CP L2, địa chỉ: 33A Trường Sơn, Phường 4, quận T do bà Đặng Thị Hồng Loan làm Tổng giám đốc. Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe và Giấy tờ liên quan cho cho Công ty CP L2 theo qui định.

- 01 xe mô tô mang biển số 52H2-7313; 01 giấy chứng nhận đăng

e mô tô biển số 52H2-7313 số 071219 mang tên Nguyễn Thị Ngọc Điệp (bản chính); 01 giấy phép lái xe số B426540 mang tên Nguyễn Đ1 (bản chính). Xác minh chủ xe là bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp, sinh năm 1976; Hộ kh u thường trú tại 347/4/1 Huỳnh Văn Bánh, Phường 11, quận Phú Nhuận, bà Điệp chuyển kh u về địa chỉ 178/17 Phan Đăng Lưu, phường 3, quận Phú Nhuận, hiện bà Điệp đã bán nhà, rõ nơi cư trú nên hông làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra đăng báo mời bà Điệp đến làm việc nhưng hông c ết quả. Bà Nguyễn Khánh Quỳnh Như là con ông Nguyễn Đ1 cho biết ông Đ1 mua chiếc xe trên s dụng đã lâu hông làm giấy tờ mua mà chỉ có giấy đăng

e. Gia đình cũng chủ động tìm bà Điệp để sang tên e nhưng hông biết hiện tại bà Điệp đang ở đâu. Ngày 27/12/2021, bà Như làm đơn in nhận lại xe của ông Đ1, cam kết xe do ông Đ1 mua, xe không bị tranh chấp, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe và giấy tờ liên quan cho bà Như theo qui định.

- 01 giấy phép lái xe số 750170020260 mang tên Phạm Văn Đ, trả cho Đ.

- Lưu èm hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD (đã niêm phong .

Tại bản cáo trạng số 09/CT-VKS- TB ngày 21 tháng 01 năm 2022, Viện iểm sát nhân dân quận T đã truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a hoản 1 Điều 260 Bộ luật hình s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên t a, Đại diện Viện iểm sát đã trình bày luận tội, cụ thể: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ c trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên t a thông qua lời hai của bị cáo, Đại diện gia đình bị hại, người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan thì vì s bất c n, Phạm Văn Đ là người trên 18 tuổi, c đủ năng l c trách nhiệm hình s đã th c hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý, điều khiển xe ô tô tải biển số 51C- 643.14 đỗ xe và mở c a e hông đảm bảo an toàn gây tai nạn giao thông, vi phạm điểm đ hoản 3 Điều 18 của Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả ông Nguyễn Đ1 t vong do chấn thương sọ não diễn tiến viêm phổi, suy đa cơ quan. Hành vi vi phạm của Đ là lỗi chính, ông Nguyễn Đ1 điều khiển xe mô tô biển số 52H2- 7313 có giấy ph p lái e, lưu thông đúng phần đường quy định, không có lỗi.

Hành vi trên của Phạm Văn Đ đã cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được qui định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.

“Điều 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người;’

Quá trình điều tra, bị can Phạm Văn Đ thành kh n hai báo, ăn năn hối cải, tích c c đưa ông Nguyễn Đ1 đi cấp cứu và chăm s c hi điều trị tại bệnh viện, t thương lượng bồi thường khắc phục hậu quả, đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại không yêu cầu x lý hình s đối với bị can, nhân thân chưa tiền án, tiền s , bị cáo là lao động chính, hoàn cảnh h hăn, con bị cáo bệnh tim b m sinh, được giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, áp dụng thời gian th thách theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân s : Đ đã hỗ trợ và bồi thường cho gia đình ông Đ1 số tiền 203.000.000 đồng, bà Nguyễn Khánh Quỳnh Như con ruột ông Nguyễn Đ1 (đại diện hợp pháp của bị hại c làm đơn in bãi nại, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình s và không yêu cầu gì thêm đối với Đ. X t s thỏa thuận này của gia đình bị hại và bị cáo hông trái pháp luật nên đề nghị Hội đồng t chấp nhận.

Về vật chứng vụ án:

- 01 xe ô tô tải mang biển số 51C- 643.14; 01 giấy chứng nhận đăng

e ô tô tải biển số 51C- 643.14 mang tên Công ty CP L2 (bản chính); 01 giấy đăng kiểm số KD 3572874 của xe ô tô tải mang biển số 51C- 643.14 (bản chính). Xác minh xe, giấy chứng nhận, giấy đăng iểm là của Công ty CP L2, địa chỉ: 33A Trường Sơn, Phường 4, quận T do bà Đặng Thị Hồng Loan làm Tổng giám đốc. Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe và Giấy tờ liên quan cho cho Công ty CP L2 theo qui định. Hiện hông c ai thắc mắc, hiếu nại gì nên đề nghị Hội đồng t

hông em t lại.

- 01 xe mô tô mang biển số 52H2-7313; 01 giấy chứng nhận đăng

e mô tô biển số 52H2-7313 số 071219 mang tên Nguyễn Thị Ngọc Điệp (bản chính); 01 giấy phép lái xe số B426540 mang tên Nguyễn Đ1 (bản chính). Xác minh chủ xe là bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp, sinh năm 1976; Hộ kh u thường trú tại 347/4/1 Huỳnh Văn Bánh, Phường 11, quận Phú Nhuận, bà Điệp chuyển kh u về địa chỉ 178/17 Phan Đăng Lưu, phường 3, quận Phú Nhuận, hiện bà Điệp đã bán nhà, không rõ nơi cư trú nên hông làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra đăng báo mời bà Điệp đến làm việc nhưng hông c ết quả. Bà Nguyễn Khánh Quỳnh Như là con ông Nguyễn Đ1 cho biết ông Đ1 mua chiếc xe trên s dụng đã lâu hông làm giấy tờ mua mà chỉ có giấy đăng

e. Gia đình cũng chủ động tìm bà Điệp để sang tên e nhưng hông biết hiện tại bà Điệp đang ở đâu. Ngày 27/12/2021, bà Như làm đơn in nhận lại xe của ông Đ1, cam kết xe do ông Đ1 mua, xe không bị tranh chấp, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe và giấy tờ liên quan cho bà Như theo qui định. Hiện hông c ai thắc mắc, hiếu nại gì nên đề nghị Hội đồng t

hông em t lại.

- 01 giấy phép lái xe số 750170020260 mang tên Phạm Văn Đ, trả cho Đ. Hiện hông c ai thắc mắc, hiếu nại gì nên đề nghị Hội đồng t

hông em t lại.

Sau phần luận tội của Viện iểm sát, bị cáo hông tranh luận, tranh tụng với Viện iểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng t

em t hoàn cảnh của bị cáo để chiếu cố giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nh m giúp cho bị cáo s a chữa lỗi lầm của mình và lao động để c tiền bồi thường cho gia đình bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên t a, Hội đồng t nhận định như sau:

1 Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị cáo theo các tài liệu, chứng cứ được Công an quận Tân Bình lập, thì việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình ra quyết định hởi tố vụ án, hởi tố bị can, cấm đi hỏi nơi cư trú để phục vụ công tác điều tra, truy tố, t đối với bị cáo Phạm Văn Đ về hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a hoản 1 Điều 260 Bộ luật hình s năm 2015, được s a đổi bổ sung năm 2017 là c cơ sở, đúng trình t , thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình s . Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện iểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra, giải quyết vụ án đã th c hiện đúng về th m quyền, trình t , thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình s . Căn cứ diễn biến tại phiên t a, thông qua phần t hỏi, th m tra các tài liệu, chứng cứ, luận tội, tranh tụng; nhận thấy lời hai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ c trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người c quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không ai c

iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã th c hiện đều hợp pháp.

[2 Về hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ các tài liệu chứng cứ c trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên t a thông qua việc th m tra các tài liệu, chứng cứ và lời hai của bị cáo thì hành vi điều khiển e lưu thông vào đường Ca Văn Thỉnh, Phường 11, quận T tấp vào sát lề bên phải và dừng lại trước số 85B Ca Văn Thỉnh để đi ăn cơm trưa, hi mở c a e bên trái để bước xuống nhưng bất c n không quan sát vào kính chiếu hậu hay nhìn quan sát khu v c xung quanh mà lại mở c a của bị cáo đã vi phạm quy định tại điểm đ hoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ, là nguyên nhân gây ra vụ tai nạn giao thông làm cho bị hại bị thương nặng dẫn đến chết, là hành vi vi phạm pháp luật, bị cáo là người c năng l c chịu trách nhiệm hình s nên đã đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a hoản 1 Điều 260 Bộ luật hình s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017 như cáo trạng Viện iểm sát đã truy tố. Đồng thời qua phần phân tích, đánh giá, nhận định của đại diện Viện iểm sát trong phần luận tội, nhận thấy những căn cứ Viện iểm sát viện dẫn làm cơ sở chứng minh hành vi phạm tội để đề nghị truy tố, phạt bị cáo như đã nêu trên là c căn cứ nên Hội đồng t chấp nhận.

X t thấy hành vi phạm tội của bị cáo tuy là lỗi vô nhưng hậu quả là rất nghiêm trọng vi phạm Luật giao thông đường bộ, âm phạm an toàn công cộng, gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, vì vậy cần

phạt bị cáo mức án phù hợp để c tác dụng giáo dục, răn đe và ph ng ngừa chung. Tuy nhiên, t thấy trong quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo đã thành h n hai báo, ăn năn hối cải; quá trình điều tra bị cáo đã t nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 203.000.000 đồng; người đại diện hợp pháp của bị hại c đơn bãi nại in miễn trách nhiệm hình s cho bị cáo, bị cáo chưa c tiền án tiền s , c nhân thân tốt, là lao động chính và gia đình bị cáo có hoàn cảnh rất h hăn (vợ bệnh tiểu đường mãn tính đang điều trị, con bị bệnh tim b m sinh đang điều trị nên cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Việc đại diện viện iểm sát căn cứ tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo để đề nghị áp dụng điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình s ; điểm a hoản 1 Điều 260, Điều 65 Bộ luật hình s năm 2015, được s a đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo là c căn cứ nên Hội đồng t chấp nhận. X t thấy bị cáo c 02 tình tiết giảm nhẹ (điểm b,s quy định tại hoản 1 Điều 51; c tình tiết giảm nhẹ quy định tại hoản 2 Điều 51 Bộ luật hình s (gia đình bị hại c đơn bãi nại, hông yêu cầu l hình s bị cáo c nơi cư trú rõ ràng, ổn định, c nhân thân tốt, hông c tiền án tiền s , hông thuộc trường hợp hông được cho hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Th m phán T a án nhân dân tối cao, do đ Hội đồng t thống nhất cho bị cáo hưởng án treo như đề nghị của Viện iểm sát.

Về trách nhiệm dân s :

Đối với số tiền 203.000.000 đồng bị cáo đã bồi thường cho gia đình của bị hại, hiện nay hông c ai thắc mắc, hiếu nại gì nên Hội đồng t thống nhất hông em t lại như đề nghị của Viện iểm sát.

[5 Về vật chứng vụ án:

- 01 xe ô tô tải mang biển số 51C- 643.14; 01 giấy chứng nhận đăng

e ô tô tải biển số 51C- 643.14 mang tên Công ty CP L2 (bản chính); 01 giấy đăng kiểm số KD 3572874 của xe ô tô tải mang biển số 51C- 643.14 (bản chính). Xác minh xe, giấy chứng nhận, giấy đăng iểm là của Công ty CP L2, địa chỉ: 33A Trường Sơn, Phường 4, quận T do bà Đặng Thị Hồng Loan làm Tổng giám đốc. Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe và Giấy tờ liên quan cho cho Công ty CP L2 theo qui định. Hiện hông c ai thắc mắc, hiếu nại gì nên Hội đồng t thống nhất hông em t lại như đề nghị của đại diện Viện iểm sát.

- 01 xe mô tô mang biển số 52H2-7313; 01 giấy chứng nhận đăng

e mô tô biển số 52H2-7313 số 071219 mang tên Nguyễn Thị Ngọc Điệp (bản chính); 01 giấy phép lái xe số B426540 mang tên Nguyễn Đ1 (bản chính). Xác minh chủ xe là bà Nguyễn Thị Ngọc Điệp, sinh năm 1976; Hộ kh u thường trú tại 347/4/1 Huỳnh Văn Bánh, Phường 11, quận Phú Nhuận, bà Điệp chuyển kh u về địa chỉ 178/17 Phan Đăng Lưu, phường 3, quận Phú Nhuận, hiện bà Điệp đã bán nhà, không rõ nơi cư trú nên hông làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra đăng báo mời bà Điệp đến làm việc nhưng hông c ết quả. Bà Nguyễn Khánh Quỳnh Như là con ông Nguyễn Đ1 cho biết ông Đ1 mua chiếc xe trên s dụng đã lâu hông làm giấy tờ mua mà chỉ nhận giấy đăng

e. Gia đình cũng chủ động tìm bà Điệp để sang tên e nhưng hông biết hiện tại bà Điệp đang ở đâu. Ngày 27/12/2021, bà Như làm đơn in nhận lại xe của ông Đ1, cam kết xe do ông Đ1 mua, xe không bị tranh chấp, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe và giấy tờ liên quan cho bà Như theo qui định. Hiện hông c ai thắc mắc, hiếu nại gì nên Hội đồng t thống nhất hông em t lại như đề nghị của đại diện Viện iểm sát.

- Đối với 01 giấy ph p lái e mang tên Phạm Văn Đ do Công an thu giữ của bị cáo. X t thấy đây là giấy tờ cá nhân của bị cáo nên Hội đồng t thống nhất trả lại cho bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện iểm sát.

[6 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, s hoản 1, hoản 2 Điều 51; điểm a hoản 1 Điều 260, Điều 65 Bộ luật hình s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình s năm 2015; Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản l và s dụng án phí và lệ phí t a án, Điều 357, 468 Bộ luật Dân s năm 2015.

1 Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

X phạt: PHẠM VĂN Đ 01 (một năm tù về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho bị cáo hưởng án treo.

Thời gian th thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Phạm Văn Đ cho y ban nhân dân phường Thống Nhất, Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để giám sát và giáo dục trong thời gian th thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì th c hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình s .

Trong thời gian th thách, nếu người được hưởng án treo cố vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình s 02 lần trở lên, thì T a án c thể quyết định buộc người đ phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo (khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình s .

2 Về trách nhiệm dân s : Bị cáo đã thi hành ong trách nhiệm dân s .

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn đồng án phí Hình s sơ th m.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s (đã s a đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân sư c quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân s (đã s a đổi, bổ sung năm 2015 ; Thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân s (đã s a đổi, bổ sung năm 2015 .

Hội đồng t đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương s theo quy định tại Điều 26 Luật Thi hành án (đã s a đổi, bổ sung năm 2015 .

[4 Trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền háng cáo lên T a án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.

Đã giải thích chế định án treo.

Cỡ chữ