vanban.org

Bản án 21/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 31/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 Tuyên bố bị cáo D ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

X ph t: D 01 (một năm tù về tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho bị cáo hư ng án treo. Thời gian th thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố bị cáo D ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình s; Điều 106 Bộ luật Tố t ng Hình s; Điều 135 Bộ luật Tố t ng Hình s
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/HS-ST
Ngày : 31/3/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Lan Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Minh Hiền

Ông Lê Thanh Hải

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thùy Dương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên

Ngày 28 và ngày 31 tháng 3 năm 2022 t i tr s Toà án nhân dân quận Tân Bình x t x công khai sơ th m v án hình s sơ th m th lý số 05/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa v án ra x t x số 23/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

D; sinh ngày 24 tháng 10 năm 1980 t i Thái Bình; nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: D khu phố E, đường G, phường H, thành phố I, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông: D1 và bà: D2; có vợ: K và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án: không; tiền s : không; bị bắt, t m giữ, t m giam: không. Bị cáo t i ngo i.

(Có mặt)

Bị hại: Ông L, sinh năm 1953, nơi cư trú: M, phường N, quận O, Thành phố Hồ Chí Minh (Đã chết sau tai n n .

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

1. Bà P, sinh năm 1955 là vợ của bị h i, nơi cư trú: M, phường N, quận O, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo hồ sơ v án thể hiện t i thời điểm xảy ra tai n n ông L còn sống, nhưng t i thời điểm x t x đã chết

2. Chị M, sinh năm 1977, là con của bị h i, nơi cư trú: M, phường N, quận O, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Chị M1, sinh năm 1979, là con của bị h i, nơi cư trú: M, phường N, quận O, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Chị M2, sinh năm 1986, là con của bị h i, hộ kh u thường trú: A1, phường A2, quận A3, Thành phố Hồ Chí Minh.

5. Anh M3, sinh năm 1988 là con của bị h i, hộ kh u thường trú: M, phường N, quận O, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đ i diện theo ủy quyền của bà P, chị M, chị M2, anh M3: Bà N1 (có đơn xin x t x vắng mặt .

Người có quyền lợi, nghĩa v liên quan: Công ty Cổ phần L1 (có đơn xin x t x vắng mặt .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 15 phút ngày 20/10/2020, D điều khiển và đỗ xe ô tô biển số 51C- 643.14 t i trước số A, Phường B, quận O, Thành phố Hồ Chí Minh, hướng xe từ đường Đồng Đen về đường Phan Sào Nam, D vừa m cánh c a bên trái xe ô tô để đi ra ngoài nhưng không quan sát, cánh c a xe ô tô va ch m vào tay lái bên phải của xe mô tô biển số 52H2-7313 do ông L (sinh năm 1953 điều khiển lưu thông từ phía sau cùng chiều với hướng xe ô tô của D gây tai n n làm ông L bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu t i Bệnh viện 115. Đến ngày 15/11/2020, ông L chết t i bệnh viện.

T i kết luận giám định pháp y t thi số 1949-20/KLGĐ-PY ngày 21/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình s Công an Tp. Hồ Chí Minh kết luận: Nguyên nhân chết của ông L do viêm phổi, suy đa cơ quan và chấn thương sọ não. Kết luận giám định pháp y bổ sung số 1435-21/KLGĐ-PY ngày 06/04/2021 của Phòng kỹ thuật hình s - Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Nguyên nhân dẫn đến L chết do chấn thương sọ não diễn tiến viêm phổi, suy đa cơ quan.

Kết qủa điều tra xác định được nguyên nhân gây tai n n làm ông L chết là do D điều khiển xe ô tô tải biển số 51C- 643.14 đỗ xe và m c a xe không đảm bảo an toàn gây tai n n giao thông vi ph m điểm đ khoản 3 Điều 18 của Luật giao thông đường bộ, hậu quả ông L t vong do chấn thương sọ não diễn tiến viêm phổi, suy đa cơ quan.

T i Cơ quan điều tra, D đã khai nhận hành vi ph m tội, đồng thời gia đình n n nhân là bà M2 con ruột ông L (đ i diện hợp pháp của n n nhân có làm đơn xin bãi n i và đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình s đối với D vì sau khi xảy ra tai n n, bị can D tích c c đưa ông L đi cấp cứu và chăm sóc khi điều trị t i bệnh viện, phía gia đình của D đã t nguyện hỗ trợ bồi thường cho gia đình P.

Vật chứng thu giữ:

- 01 xe ô tô tải mang biển số 51C- 643.14; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển số 51C- 643.14 mang tên Công ty CP L1 (bản chính); 01 giấy đăng kiểm số KD 3572874 của xe ô tô tải mang biển số 51C- 643.14 (bản chính). Xác minh xe, giấy chứng nhận, giấy đăng kiểm là của Công ty CP L1, địa chỉ: L2, Phường L3, quận O do bà L4 làm Tổng giám đốc. Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe và Giấy tờ liên quan cho cho Công ty CP L1 theo qui định.

- 01 xe mô tô mang biển số 52H2-7313; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 52H2-7313 số 071219 mang tên Đ (bản chính); 01 giấy phép lái xe số B426540 mang tên L (bản chính). Xác minh chủ xe là bà Đ, sinh năm 1976; Hộ kh u thường trú t i Đ1, Phường B1, quận B2, bà Đ chuyển kh u về địa chỉ C1, phường C2, quận C3, hiện bà Đ đã bán nhà, rõ nơi cư trú nên không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra đăng báo mời bà Đ đến làm việc nhưng không có kết quả. Bà M2 là con ông L cho biết ông L mua chiếc xe trên s d ng đã lâu không làm giấy tờ mua mà chỉ có giấy đăng ký xe. Gia đình cũng chủ động tìm bà Đ để sang tên xe nhưng không biết hiện t i bà Đ đang đâu. Ngày 27/12/2021, P làm đơn xin nhận l i xe của ông L, cam kết xe do ông L mua, xe không bị tranh chấp, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe và giấy tờ liên quan cho P theo qui định.

- 01 giấy phép lái xe số 750170020260 mang tên D, trả cho D.

- Lưu kèm hồ sơ v án 01 đĩa DVD (đã niêm phong .

T i bản cáo tr ng số 09/CT-VKS- TB ngày 21 tháng 01 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo D về tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017.

T i phiên tòa, Đ i diện Viện kiểm sát đã trình bày luận tội, c thể: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ v án, diễn biến t i phiên tòa thông qua lời khai của bị cáo, Đ i diện gia đình bị h i, người có quyền lợi nghĩa v liên quan thì vì s bất c n, D là người trên 18 tuổi, có đủ năng l c trách nhiệm hình s đã th c hiện hành vi ph m tội với lỗi vô ý, điều khiển xe ô tô tải biển số 51C-643.14 đỗ xe và m c a xe không đảm bảo an toàn gây tai n n giao thông, vi ph m điểm đ khoản 3 Điều 18 của Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả ông L t vong do chấn thương sọ não diễn tiến viêm phổi, suy đa cơ quan. Hành vi vi ph m của D là lỗi chính, ông L điều khiển xe mô tô biển số 52H2- 7313 có giấy ph p lái xe, lưu thông đúng phần đường quy định, không có lỗi.

Hành vi trên của D đã cấu thành tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội ph m và hình ph t được qui định t i điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017.

“Điều 260.Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) Làm chết người;’

Quá trình điều tra, bị can D thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, tích c c đưa ông L đi cấp cứu và chăm sóc khi điều trị t i bệnh viện, t thương lượng bồi thường khắc ph c hậu quả, đ i diện hợp pháp của bị h i bãi n i không yêu cầu x lý hình s đối với bị can, nhân thân chưa tiền án, tiền s , bị cáo là lao động chính, hoàn cảnh khó khăn, con bị cáo bệnh tim b m sinh, được giảm nhẹ trách nhiệm hình s quy định t i điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình s năm 2015, s a đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị x ph t bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hư ng án treo, áp d ng thời gian th thách theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân s : D đã hỗ trợ và bồi thường cho gia đình ông L số tiền 203.000.000 đồng, bà M2 con ruột ông L (đ i diện hợp pháp của bị h i) có làm đơn xin bãi n i, đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình s và không yêu cầu gì thêm đối với D. X t s thỏa thuận này của gia đình bị h i và bị cáo không trái pháp luật nên đề nghị Hội đồng x t x chấp nhận.

Về vật chứng v án:

- 01 xe ô tô tải mang biển số 51C- 643.14; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển số 51C- 643.14 mang tên Công ty CP L1 (bản chính); 01 giấy đăng kiểm số KD 3572874 của xe ô tô tải mang biển số 51C- 643.14 (bản chính). Xác minh xe, giấy chứng nhận, giấy đăng kiểm là của Công ty CP L1, địa chỉ: L2, Phường L3, quận O do L4 làm Tổng giám đốc. Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe và Giấy tờ liên quan cho cho Công ty CP L1 theo qui định. Hiện không có ai thắc mắc, khiếu n i gì nên đề nghị Hội đồng x t x không xem x t l i.

- 01 xe mô tô mang biển số 52H2-7313; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 52H2-7313 số 071219 mang tên Đ (bản chính); 01 giấy phép lái xe số B426540 mang tên L (bản chính). Xác minh chủ xe là bà Đ, sinh năm 1976; Hộ kh u thường trú t i Đ1, Phường B1, quận B2, bà Đ chuyển kh u về địa chỉ C1, phường C2, quận C3, hiện bà Đ đã bán nhà, không rõ nơi cư trú nên không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra đăng báo mời bà Đ đến làm việc nhưng không có kết quả. Bà M2 là con ông L cho biết ông L mua chiếc xe trên s d ng đã lâu không làm giấy tờ mua mà chỉ có giấy đăng ký xe. Gia đình cũng chủ động tìm bà Đ để sang tên xe nhưng không biết hiện t i bà Đ đang đâu. Ngày 27/12/2021, P làm đơn xin nhận l i xe của ông L, cam kết xe do ông L mua, xe không bị tranh chấp, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe và giấy tờ liên quan cho P theo qui định. Hiện không có ai thắc mắc, khiếu n i gì nên đề nghị Hội đồng x t x không xem x t l i.

- 01 giấy phép lái xe số 750170020260 mang tên D, trả cho D. Hiện không có ai thắc mắc, khiếu n i gì nên đề nghị Hội đồng x t x không xem x t l i.

Sau phần luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận, tranh t ng với Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng x t x xem x t hoàn cảnh của bị cáo để chiếu cố giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo nh m giúp cho bị cáo s a chữa lỗi lầm của mình và lao động để có tiền bồi thường cho gia đình bị h i.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng x t x nhận định như sau:

1 Căn cứ vào hành vi ph m tội của bị cáo theo các tài liệu, chứng cứ được Công an quận Tân Bình lập, thì việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình ra quyết định kh i tố v án, kh i tố bị can, cấm đi khỏi nơi cư trú để ph c v công tác điều tra, truy tố, x t x đối với bị cáo D về hành vi vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định t i điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình s năm 2015, được s a đổi bổ sung năm 2017 là có cơ s , đúng trình t , thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình s . Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra, giải quyết v án đã th c hiện đúng về th m quyền, trình t , thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình s . Căn cứ diễn biến t i phiên tòa, thông qua phần x t hỏi, th m tra các tài liệu, chứng cứ, luận tội, tranh t ng; nhận thấy lời khai, chứng cứ ph m tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án; bị cáo, người đ i diện hợp pháp của bị h i, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan đến v án, không ai có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã th c hiện đều hợp pháp.

[2 Về hành vi ph m tội của bị cáo: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án, diễn biến t i phiên tòa thông qua việc th m tra các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo thì hành vi điều khiển xe lưu thông vào đường A, Phường B, quận O tấp vào sát lề bên phải và dừng l i trước số A4 đường A để đi ăn cơm trưa, khi m c a xe bên trái để bước xuống nhưng bất c n không quan sát vào kính chiếu hậu hay nhìn quan sát khu v c xung quanh mà l i m c a của bị cáo đã vi ph m quy định t i điểm đ khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ, là nguyên nhân gây ra v tai n n giao thông làm cho bị h i bị thương nặng dẫn đến chết, là hành vi vi ph m pháp luật, bị cáo là người có năng l c chịu trách nhiệm hình s nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định t i điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017 như cáo tr ng Viện kiểm sát đã truy tố. Đồng thời qua phần phân tích, đánh giá, nhận định của đ i diện Viện kiểm sát trong phần luận tội, nhận thấy những căn cứ Viện kiểm sát viện dẫn làm cơ s chứng minh hành vi ph m tội để đề nghị truy tố, x ph t bị cáo như đã nêu trên là có căn cứ nên Hội đồng x t x chấp nhận.

X t thấy hành vi ph m tội của bị cáo tuy là lỗi vô ý nhưng hậu quả là rất nghiêm trọng vi ph m Luật giao thông đường bộ, xâm ph m an toàn công cộng, gây thiệt h i đến tính m ng, sức khỏe, tài sản của người khác, vì vậy cần x ph t bị cáo mức án phù hợp để có tác d ng giáo d c, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, x t thấy trong quá trình điều tra và t i phiên tòa, bị cáo đã thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; quá trình điều tra bị cáo đã t nguyện bồi thường thiệt h i cho gia đình bị h i số tiền 203.000.000 đồng; người đ i diện hợp pháp của bị h i có đơn bãi n i xin miễn trách nhiệm hình s cho bị cáo, bị cáo chưa có tiền án tiền s , có nhân thân tốt, là lao động chính và gia đình bị cáo có hoàn cảnh rất khó khăn (vợ bệnh tiểu đường mãn tính đang điều trị, con bị bệnh tim b m sinh đang điều trị nên cần giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.

Việc đ i diện viện kiểm sát căn cứ tính chất, mức độ do hành vi ph m tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo để đề nghị áp d ng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình s ; điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 65 Bộ luật hình s năm 2015, được s a đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo là có căn cứ nên Hội đồng x t x chấp nhận. X t thấy bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ (điểm b,s quy định t i khoản 1 Điều 51; có tình tiết giảm nhẹ quy định t i khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình s (gia đình bị h i có đơn bãi n i, không yêu cầu x lý hình s bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có nhân thân tốt, không có tiền án tiền s , không thuộc trường hợp không được cho hư ng án treo theo quy định t i Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao, do đó Hội đồng x t x thống nhất cho bị cáo hư ng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát.

Về trách nhiệm dân s :

Đối với số tiền 203.000.000 đồng bị cáo đã bồi thường cho gia đình của bị h i, hiện nay không có ai thắc mắc, khiếu n i gì nên Hội đồng x t x thống nhất không xem x t l i như đề nghị của Viện kiểm sát.

[5 Về vật chứng v án:

- 01 xe ô tô tải mang biển số 51C- 643.14; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô tải biển số 51C- 643.14 mang tên Công ty CP L1 (bản chính); 01 giấy đăng kiểm số KD 3572874 của xe ô tô tải mang biển số 51C- 643.14 (bản chính). Xác minh xe, giấy chứng nhận, giấy đăng kiểm là của Công ty CP L1, địa chỉ: L2, Phường L3, quận O do L4 làm Tổng giám đốc. Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe và Giấy tờ liên quan cho cho Công ty CP L1 theo qui định. Hiện không có ai thắc mắc, khiếu n i gì nên Hội đồng x t x thống nhất không xem x t l i như đề nghị của đ i diện Viện kiểm sát.

- 01 xe mô tô mang biển số 52H2-7313; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 52H2-7313 số 071219 mang tên Đ (bản chính); 01 giấy phép lái xe số B426540 mang tên L (bản chính). Xác minh chủ xe là bà Đ, sinh năm 1976; Hộ kh u thường trú t i Đ1, Phường B1, quận B2, bà Đ chuyển kh u về địa chỉ C1, phường C2, quận C3, hiện bà Đ đã bán nhà, không rõ nơi cư trú nên không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra đăng báo mời bà Đ đến làm việc nhưng không có kết quả. Bà M2 là con ông L cho biết ông L mua chiếc xe trên s d ng đã lâu không làm giấy tờ mua mà chỉ nhận giấy đăng ký xe. Gia đình cũng chủ động tìm bà Đ để sang tên xe nhưng không biết hiện t i bà Đ đang đâu. Ngày 27/12/2021, P làm đơn xin nhận l i xe của ông L, cam kết xe do ông L mua, xe không bị tranh chấp, Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe và giấy tờ liên quan cho P theo qui định. Hiện không có ai thắc mắc, khiếu n i gì nên Hội đồng x t x thống nhất không xem x t l i như đề nghị của đ i diện Viện kiểm sát.

- Đối với 01 giấy ph p lái xe mang tên D do Công an thu giữ của bị cáo. X t thấy đây là giấy tờ cá nhân của bị cáo nên Hội đồng x t x thống nhất trả l i cho bị cáo theo đề nghị của đ i diện Viện kiểm sát.

[6 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 65 Bộ luật hình s năm 2015, s a đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố t ng Hình s năm 2015; Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 của y ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí tòa án, Điều 357, 468 Bộ luật Dân s năm 2015.

1 Tuyên bố bị cáo D ph m tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

X ph t: D 01 (một năm tù về tội “Vi ph m quy định về tham gia giao thông đường bộ”, nhưng cho bị cáo hư ng án treo.

Thời gian th thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo D cho y ban nhân dân phường D1, Thành phố D2, tỉnh Đồng Nai để giám sát và giáo d c trong thời gian th thách. Trường hợp người được hư ng án treo thay đổi nơi cư trú thì th c hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình s .

Trong thời gian th thách, nếu người được hư ng án treo cố ý vi ph m nghĩa v theo quy định của Luật Thi hành án hình s 02 lần tr lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình ph t tù của bản án đã cho hư ng án treo (khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình s .

2 Về trách nhiệm dân s : Bị cáo đã thi hành xong trách nhiệm dân s .

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn đồng án phí Hình s sơ th m.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định t i Điều 2 Luật Thi hành án dân s (đã s a đổi, bổ sung năm 2015 thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân s (đã s a đổi, bổ sung năm 2015 ; Thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định t i Điều 30 Luật thi hành án dân s (đã s a đổi, bổ sung năm 2015 .

Hội đồng x t x đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa v thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương s theo quy định t i Điều 26 Luật Thi hành án (đã s a đổi, bổ sung năm 2015 .

[4 Trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đ i diện hợp pháp của bị h i, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người đ i diện hợp pháp của bị h i, người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án.

Đã giải thích chế định án treo.

Cỡ chữ