- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Q - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 21/2022/HS-ST Ngày: 11-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN CHẤN, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Nguyễn Thắng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Lương Trung Đức.
- Bà Phạm Thị Hồng Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Diệp Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thành Long - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn Q (tên gọi khác không), sinh ngày 20/5/1971 tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Thôn C2, xã CT, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái; dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn lớp 4/10; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Phạm Quang T và bà Hoàng Thị S, (đều đã chết); Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T, sinh 1973 và 3 con, con lớn nhất sinh 1993, con nhỏ nhất sinh 2001; tiền án: không; tiền sự: Ngày 28/5/2019 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số: 19/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện Văn Chấn, ngày 20/02/2021 chấp hành xong. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/4/2022, tạm giam từ ngày 09/4/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái. “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 45 phút ngày 07/4/2022, tại khu vực thôn D 2, xã CT, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế - ma túy Công an huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái phát phát hiện 01 người đàn ông đi xe mô tô biển kiểm soát 21F1-048.31 có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, người đàn ông này khai tên Phạm Văn Q, sinh năm 1971, trú tại thôn C2, xã CT, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, tổ công tác thu giữ tại túi quần bên phải của Q đang mặc 01 túi nilon màu đen chứa chất bột nén màu trắng (nghi heroine) và thu giữ tại túi áo khoác bên trái 01 gói giấy bên trong chứa chất bột nén màu trắng (nghi heroine). Ngoài ra tổ công tác còn tạm giữ của Phạm Văn Q 01 điện thoại di động NOKIA; 01 ví giả da màu nâu đen bên trong có 1.000.000 đồng và 01 Chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn Q; 01 xe mô tô EXCITER biển kiểm soát 21F1-048.31 cùng 01 đăng ký xe mang tên Dương Kim T. Khai thác tại chỗ Phạm Văn Q khai chất bột nén màu trắng trong gói nilon màu đen là heroine Q mang đi để bán, còn chất bột nén màu trắng trong gói giấy cũng là heroine Q mang đi để sử dụng. Thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn Q, Cơ quan công an tiếp tục thu giữ tại bàn uống nước trong nhà Q 01 gói giấy bên trong chứa chất bột nén màu trắng (nghi heroine). Cơ quan công an đã tạm giữ Phạm Văn Q để điều tra về hành vi mua, bán trái phép chất ma túy.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn Q thay đổi lời khai và khai nhận như sau: Khoảng 01 tuần trước ngày bị bắt, Q đi vào khu vực chợ “5 nghìn” thuộc xã Đồng Khê, huyện Văn Chấn thăm người ốm, tại đây Q gặp Hoàng Văn K, sinh 1975, trú tại thôn Bản H, xã Đ, huyện Văn Chấn, Q và K đứng nói chuyện thì có 1 người đàn ông không quen biết đến hỏi Q có mua ma túy không? Q và người đàn ông này đi ra khỏi chỗ K đứng khoảng 5m thì dừng lại trao đổi, Q đồng ý mua ma túy và hẹn người này khoảng 2 đến 3 ngày hôm sau đến khu vực đồi chè thuộc tổ dân phố Thác Hoa, thị trấn Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn để mua bán ma túy. Chiều 05/4/2022, Q điều khiển xe máy đi vào nơi hẹn, tại đây Q đã bỏ ra số tiền 1.300.000 đồng để mua 01 gói heroine. Sau khi mua được ma túy, Q mang về nhà sử dụng 1 ít, số còn lại Q chia thành 3 phần, phần nhiều nhất Q gói vào túi nilon màu đen, 2 phần ít hơn Q gói vào 02 gói giấy. Khoảng 10 giờ ngày 07/4/2022, Q đi ra khu vực chợ Chùa, xã Chấn Thịnh thì gặp một người đàn ông không quen biết, người này ngỏ ý muốn tìm mua heroine, khi đó Q nói có 1 ít để ở nhà và thỏa thuận sẽ bán cho người này 5 phân heroine với giá 400.000 đồng/01 phân và hẹn sẽ giao dịch tại dốc Lâm Sinh thuộc thôn Dày 2, xã Chấn Thịnh. Sau đó Q đi về nhà và lấy 02 gói heroine ( 01 gói nilon màu đen và 01 gói giấy) mang đi để bán còn 01 gói heroine giấu tại bàn uống nước để Q sử dụng dần. Khi mang 02 gói heroine đi đến điểm hẹn để bán nhưng chưa kịp bán thì bị bắt.
Tại Bản kết luận giám định số 199/KL-KTHS ngày 13/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận: “Toàn bộ số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) gửi giám định là tiền do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành”.
Tại bản Kết luận giám định số 200/KL-KTHS ngày 14/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:
“1- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Phạm Văn Q có tổng khối lượng là 2,08 gam (Hai phảy không tám gam).
- 0,13 gam trích từ 2,08 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
2. Chất bột nén màu trắng thu giữ khi khám xét nơi ở của Phạm Văn Q có khối lượng là 0,01 gam (Không phảy không một gam).
- 0,01 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.”
- Cáo trạng số: 24/CT-VKS-VC ngày 12 tháng 7 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, truy tố Phạm Văn Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như trong bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):
- Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38 BLHS; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS và bị cáo có bố là Phạm Quang T được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn Q từ 3 năm đến 3 năm 6 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy số heroine còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phong bì và các vỏ phong bì + giấy gói, nilon gói. Trả lại cho bị cáo số tiền 1.000.000 đồng, 01 điện thoại NOKIA màu đen, 01 ví giả da, 01 chứng minh nhân dân.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được kháng cáo theo quy định.
Bị cáo không tranh luận với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện Văn Chấn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Chấn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong việc điều tra, truy tố bị cáo đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt và việc áp dụng biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ, tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án và vật chứng đã được thu giữ, nên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Do nghiện ma túy, để có tiền và có ma túy sử dụng nên ngày 05/4/2022, bị cáo Phạm Văn Q đã mua 01 gói heroine về vừa để bán và sử dụng. Sau khi đã sử dụng một ít, Phạm Văn Q chia nhỏ gói ma túy ra làm 3 phần, trong đó phần nhiều nhất cho vào gói nilon màu đen, 2 phần còn lại cho vào 02 gói giấy màu trắng. Ngày 07/4/2022 Q mang gói heroine trong gói nilon màu đen và gói heroine trong gói giấy màu trắng đi đến địa điểm thôn D, xã CT để bán kiếm lời thì bị công an phát hiện bắt quả tang, số ma túy này có tổng khối lượng là 2,08 gam heroine, còn 1 gói heroine trong gói giấy màu trắng có khối lượng 0,01 gam heroine Q giấu tại bàn uống nước của gia đình mình để sử dụng dần.
Phạm Văn Q là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật hình sự nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi mua bán heroine của Phạm Văn Q đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS.
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng bởi tệ nạn ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khỏe, làm suy thoái nòi giống, hủy hoại nhân cách của người sử dụng, làm tan vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, ma túy còn là nguyên nhân và điều kiện cho các tội phạm khác phát sinh, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến các quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma tuý của Nhà nước. Do vậy cần phải xử lý nghiêm khắc mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người lương thiện đồng thời đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy trong giai đoạn hiện nay.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS được áp dụng cho bị cáo. Bị cáo có cha đẻ là Phạm Quang T được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS được áp dụng cho bị cáo.
Về nhân thân của bị cáo: Sau khi bị bắt, cơ quan Công an đã thử chất ma túy trong cơ thể bị cáo, cho kết quả dương tính, năm 2019 bị cáo bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính (bị cáo chấp hành xong ngày 20/02/2021) nên bị coi là người có nhân thân xấu.
Với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, HĐXX thấy rằng cần phải áp dụng hình phạt tù với mức phạt nghiêm khắc mới có thể giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời có tác dụng răn đe những người khác có ý thức tôn trọng pháp luật và góp phần tích cực trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm ma túy như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp. Tuy nhiên cũng cần xem xét việc bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần áp dụng nguyên tắc xử lý quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Do bị cáo là lao động tự do có thu nhập thấp, bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Đối với số heroine còn lại sau khi giám định được niêm phong trong phong bì là vật cấm lưu hành và các vỏ phong bì + giấy gói, nilon gói là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về xử lý tài sản tạm giữ:
Đối với chiếc xe EXCITER biển kiểm soát 21F1-048.31, quá trình điều tra đã xác định được chiếc xe này của ông Phạm Minh L, sinh 1961, trú tại thôn L, xã H, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái (là anh trai của bị cáo). Bị cáo mượn chiếc xe này của anh trai để sử dụng, ông Lợi không biết bị cáo dùng xe để di chuyển đi mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông Lợi là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Đối với số tiền 1.000.000 đồng thu giữ khi bắt quả tang bị cáo, 01 điện thoại NOKIA màu đen, 01 ví giả da, 01 chứng minh nhân dân, những tài sản đồ vật này không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Các vấn đề khác trong vụ án:
Trong vụ án này bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông tại khu vực tổ dân phố Thác Hoa, thị trấn Sơn Thịnh và bị cáo định bán ma túy cho một người đàn ông tại khu vực thôn Dày 2, xã Chấn Thịnh, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của hai người đàn ông này nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh làm rõ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với hành vi tàng trữ 0,01 gam heroine của Phạm Văn Q để sử dụng: Khối lượng heroine trên không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên Công an huyện Văn Chấn đã xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với Hoàng Văn K, sinh 1975, trú tại thôn Bản H, xã Đ, huyện Văn Chấn, quá trình điều tra xác định được K không biết và không liên quan đến việc giao dịch mua bán ma túy giữa bị cáo với người đàn ông không quen biết do vậy HĐXX không đề cập xử lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của BLHS: Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 07/4/2022.
Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo 1.000.000 đồng (một triệu đồng); 01 ví giả da; 01 điện thoại NOKIA; 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Văn Q.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì thư do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành niêm phong số heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 03 vỏ phong bì thư đã mở niêm phong cùng mảnh giấy gói và nilon gói; 01 vỏ phong bì sau khi mở niêm phong lấy tiền trả lại cho bị cáo.
Các vật chứng, tài sản nêu trên có đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 12 tháng 7 năm 2022 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng ¸án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS: Bị cáo Phạm Văn Q có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Văn Chấn; - Công an huyện Văn Chấn (2b); - Bị cáo; - Thi hành án hình sự; - Thi hành án dân sự; - Sở Tư pháp; - Chi cục thuế huyện Văn Chấn; - Chi cục hải quan tỉnh Yên Bái; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Nguyễn Thắng |