- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Tiến Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Tiến Đ phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2022/HS-ST Ngày 14 - 06 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lương Thu Hương.
Bà Vi Thị Quý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Kiều - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông La Đăng Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 06 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2022/TLST-HS, ngày 28 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 5 năm 2022 và Thông báo thay đổi ngày xét xử số 139/TB-TA ngày 07/6/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đối với bị cáo:
Lý Tiến Đ, sinh ngày 12 tháng 6 năm 1996, tại huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn T và bà Chu Thị T1; vợ là Hoàng Thị Lệ Q và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 07/01/2022 cho đến nay, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Đàm Văn V, vắng mặt;
Địa chỉ: Thôn N, xã T1, huyện T, tỉnh Lạng Sơn;
- Những người làm chứng:
1. Anh Lý Thanh T2, sinh năm 1997, vắng mặt;
2. Anh Nông Văn Đ1, sinh năm 1994, vắng mặt;
3. Anh Nông Văn Đ2, sinh năm 1985, vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 00 phút ngày 07/01/2022, Công an huyện Tràng Định làm nhiệm vụ tại khu vực đường N1 thuộc Khu H, thị trấn T3, huyện Tràng Định phát hiện Lý Tiến Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tang vật thu giữ gồm: Thu giữ trong mũ bảo hiểm 14 gói giấy màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng; Thu giữ trong túi áo khoác 04 gói giấy màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA CBR biển kiểm soát 43G1-141.41 kèm giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô- xe máy mang tên Lê Khang; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG, gắn sim số thuê bao 0966.679587; ngoài ra thu giữ số tiền 600.000 đồng và một số vật chứng khác. Đ khai nhận, các gói chất bột màu trắng bị thu giữ là ma túy Heroine của bản thân đang đem đi bán. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lý Tiến Đ thu giữ được 01 túi nilon bên trong bám dính chất bột màu trắng; 01 kéo bằng kim loại màu trắng; 15 mảnh giấy màu vàng và số tiền 1.540.000 đồng
Lý Tiến Đ khai nhận: Nguồn gốc chất ma túy Heroine là do Đ nhiều lần điều khiển xe mô tô đến khu vực thị trấn Đ, huyện C mua chất ma túy Heroine với người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ đem về chia nhỏ để bản thân sử dụng và bán lại kiếm lời, cụ thể:
Lần 1: Ngày 01/01/2022, Đ mua 01 gói ma túy Heroine giá 2.500.000 đồng đem về chia thành 20 gói nhỏ để sử dụng và bán cho các đối tượng sau: Ngày 05/01/2022, bị cáo bán cho Nông Văn Đ2 01 lần, 01 gói giá 200.000 đồng; bán cho Nông Văn Đ 01 lần, 01 gói giá 200.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 13 giờ, ngày 06/01/2022, Đ tiếp tục mua một gói ma túy Heroine với giá 2.500.000 đồng đem về chia ra được 20 gói nhỏ để sử dụng và bán cho các đối tượng, trong đó bán cho Lý Thanh T2 02 lần, lần 1 vào khoảng 15 giờ, ngày 06/01/2022, Đ bán 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng; lần 2, khoảng 08 giờ 40 ngày 07/01/2022, bán cho T2 01 gói ma túy Heroine với giá 180.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo bán ma túy Heroine thu lợi là 780.000 đồng. Sau khi Lý Tiến Đ bán heroine thì bị Công an huyện Tràng Định bắt quả tang, thu giữ số ma túy còn lại.
Tại bản Kết luận giám định số 53/KL-PC09 ngày 09/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn đã kết luận: 18 gói chất bột màu trắng thu giữ của Lý Tiến Đ khi bắt quả tang đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,585 gam (đã trừ bì); Chất bột màu trắng bám dính trong túi nilon thu giữ được khi khám xét là chất ma túy Heroine có khối lượng 0,005 gam (đã trừ bì).
Tại bản Kết luận giám định số 83/KL-PC09, ngày 15/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn đã kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam 2.140.000 đồng thu giữ của Lý Tiến Đ đều là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSTĐ ngày 27/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lý Tiến Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, bị cáo thừa nhận sử dụng điện thoại, xe máy vào việc phạm tội, số tiền 600.000 đồng bị thu giữ trên người có nguồn gốc từ mua bán ma túy trước đó mà có, trong đó có số tiền 180.000 đồng bán cho T2 hôm bắt quả tang; đối với số tiền 1.540.000 đồng thu giữ tại nhà không có nguồn gốc từ việc mua bán ma túy đề nghị xin lại; công bố lời khai của anh Đàm Văn V, anh V cho rằng, chiếc xe mô tô bị cáo sử dụng mua bán ma túy trước đó là do anh mua, nhưng anh đã bán lại từ lâu và giờ không còn sở hữu; công bố lời khai của anh Lý Thanh T2, Nông Văn Đ2, Nông Văn Đ1 đều thừa nhận được mua ma túy với bị cáo.
Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lý Tiến Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251; đề nghị áp dụng Điều 38, 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Tiến Đ từ 07 năm đến 07 năm, 06 tháng tù; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền; về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy đã bị thu giữ, vật chứng không còn giá trị sử dụng; tịch thu số tiền 780.000 đồng do bị cáo thu lợi trong các lần bán ma túy cho các đối tượng nghiện, trong đó đã thu giữ 600.000 đồng hôm bắt quả tang, cần áp dụng biện pháp tư pháp để tịch thu (truy thu) tiếp số tiền 180.000 đồng từ bị cáo; tịch thu hóa giá sung quỹ Nhà nước tài sản dùng vào việc phạm tội; trả cho bị cáo số tiền 1.540.000 đồng nhưng được tạm giữ để đảm bảo thi hành án; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện mô tô - xe máy; 01 ví giả da màu đen; 01 căn cước công dân, 01 thẻ điều trị Methadone, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 thẻ ngân hàng Agribank đều mang tên Lý Tiến Đ; bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ với gia đình và cộng đồng xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Tràng Định trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Xét thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử.
Về hành vi cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đồng thời phù hợp với biên bản thu giữ đồ vật, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở khẳng định, bị cáo Lý Tiến Đ đã có hành vi mua bán trái phép ma túy Heroine 04 lần cho các đối tượng nghiện, thu lợi số tiền 780.000 đồng. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa và để có mức án phù hợp với hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ nhận thức và thực hiện hành vi rất nghiêm trọng với lỗi cố ý, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, là nguyên nhân gián tiếp gây ra tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, do đó phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, ngoài tình tiết định khung, bị cáo không có tình tiết tặng nặng nào khác; về tình tiết giảm nhẹ, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; về nhân thân, bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu. Trên cơ sở đánh giá này, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi đã thực hiện, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới đủ tính răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Qua kết quả xác minh bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, bản thân nghiện ma túy, vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với số tiền 600.000 đồng thu giữ của bị cáo ngày bắt quả tang, (trong đó có 180.000 đồng tiền bán ma tuy cho T2 trước đó) do bán ma túy mà có, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Đối với số tiền còn thiếu, cần áp dụng biện pháp tư pháp đối với bị cáo để tịch thu (truy thu) số tiền 180.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, vật chứng không có giá trị sử dụng; tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc xe mô tô thu giữ của bị cáo và giấy đăng ký xe, kèm theo một giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô, xe máy; 01 điện thoại dùng vào việc phạm tội; trả cho bị cáo Số tiền 1.540.000 đồng (đựng trong phong bì niêm phong dán kín) nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án, 01 căn cước công dân, 01 thẻ điều trị Methadone, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 thẻ ngân hàng Agribank mang tên Lý Tiến Đ và tịch thu tiêu hủy vật chứng không còn giá trị.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lý Tiến Đ tại khu vực thị trấn Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, nhưng không xác định được tên, tuổi địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với các đối tượng nghiện ma túy mua của bị cáo đã được Công an huyện Tràng Định xử lý hành chính là đúng quy định.
Bị cáo là người bị kết án thì phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hướng giải quyết toàn bộ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136; các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lý Tiến Đ phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lý Tiến Đ 07 (bẩy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07/01/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
3.1.Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ ma túy có tổng khối lượng 0,590 gam hoàn lại sau giám định (đựng trong phong bì thư dán kín); 15 gói giấy màu vàng; 01 kéo bằng kim loại màu trắng, 01 túi nilon bên trong bám dính chất bột màu trắng; 01 mũ bảo hiểm nhãn hiệu Moza helmet; 01 áo khoác màu nâu xám;
3.2. Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG mặt sau màu đỏ, số IMEI 1: 35808247693636, IMEI 2: 359139606493636, gắn sim số thuê bao 0966.679587; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA CBR biển kiểm soát 43G1-141.41, số khung S150R0011285, số máy 150RE0011285, kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 015144 và giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe mô tô, xe máy;
3.3. Tịch thu số tiền 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng (đựng trong phong bì dán kín).
3.4. Trả cho bị cáo số tiền 1.540.000 (một triệu năm trăm bốn mươi nghìn) đồng (đựng trong phong bì dán kín), nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án; 01 ví giả da màu đen; 01 căn cước công dân, 01 thẻ điều trị Methadone, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ bảo hiểm y tế, 01 thẻ ngân hàng Agribank đều mang tên Lý Tiến Đ.
(Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tràng Định, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/4/2022 giữa Chi cục Thi hành án dân sự và Công an huyện Tràng Định).
4. Áp dụng biện pháp tư pháp: Tuyên tịch thu (truy thu) từ bị cáo Lý Tiến Đ số tiền 180.000 (một trăm tám mươi nghìn) đồng.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Lý Tiến Đ phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lý Tiến Đ có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Tràng Định; - Công an huyện Tràng Định; - Chi cục THADS huyện Tràng Định; - Bị cáo (qua nhà tạm giữ); - NCQL,NVLQ (theo địa chỉ); - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bẩy |