- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngân Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HOÀ BÌNH ––––––––––– Bản án số: 21/2022/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Ngày: 25 - 5 - 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hà Bá Khiên;
Ông Vì Văn Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Lợi - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2022/TLST - HS ngày 23 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 21/2021/QĐXXST - HS ngày 10 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Ngần Văn L, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1990 tại huyện Mai M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, huyện Mai Ch, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngần Văn Th, sinh năm 1966 và bà Hà Thị Th, sinh năm 1965 bị cáo có vợ là Lý Thị Ng, sinh năm 2002 và có 01 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Tại bản án số 37/2008/ HSST, ngày 02/12/2008 Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử về tội cướp tài sản và tội Cố ý làm hư hỏng tài sản tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 42 tháng tù; tại bản án số 17/2010/HSST ngày 18/5/2010 Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xử về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản, xử phạt 12 tháng tù (đều đã được xóa án); năm 2016 bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính); có sử dụng, nghiện chất ma túy; bị cáo bị tạm giữ ngày 15/10/2021 chuyển tạm giam ngày 24/10/2021 đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện Lục N, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt có lý do.
2. Lý Thị Ng, sinh năm 2002; nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ ngày 15/10/2021 Công an huyện Mai Châu phối hợp với cùng Công an Thị trấn Mai Châu và Công an xã Đồng Tân đang làm nhiệm vụ tại khu vực đường dân sinh thuộc Tổ dân phố Chiềng Sại, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thì phát hiện Ngần Văn L, điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát BKS 29X1 - 660.10 có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu dừng xe lại kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện phía trong gấu áo đang mặc có 01 túi ni lon màu xanh; 01 gói giấy bạc bên trong có chứa các mảnh viên nén màu hồng. Lâm khai nhận đó ma túy của L, mua về để sử dụng cho bản thân.
Tại Cơ quan điều tra, Ngần Văn L đã khai: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/10/2021, Ngần Văn L điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát BKS 29X1 - 660.10 một mình từ nhà ra quốc lộ 6 hướng đi tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. L gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đi bộ trên đường. L dừng xe lại hỏi mua ma túy với người đàn ông này thì người này giới thiệu tên là “Súa”. Sau khi trao đổi, Súa đồng ý bán cho L 4.000.000 đồng ma túy và hẹn 30 phút sau quay lại địa điểm này để nhận ma túy. Khoảng hơn 18 giờ cùng ngày, L một mình điểu khiển xe mô tô đi lên địa điểm đã hẹn nhận ma túy với Súa và hẹn 20 giờ cùng ngày sẽ quay lại địa điểm này để trả số tiền 4.000.000 đồng, S đồng ý. Nhận ma túy xong, L điều khiển xe mô tô xuống thị trấn Mai Châu để mua đồ, khi đi đến đường dân sinh thuộc tổ dân phố Chiềng Sại, thị trấn Mai Châu thì bị bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tại Kết luận giám định số: 307/KLGĐ-CAT- PC09 ngày 01/12/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình đã kết luận: Các viên nén màu hồng, màu xanh ký hiệu M1 và các mảnh viên nén màu hồng ký hiệu M2 trong phong bì niêm phong, một mặt ghi “ Vật chứng thu giữ của Ngần Văn L ” có tổng khối lượng là 8,80 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số: 18/CT-VKS-HS ngày 23 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Ngần Văn L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Ngần Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Ngần Văn L từ 06 năm đến 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 15/10/2021.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy, không có điều kiện về tài sản, không có khả năng thi hành, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên:
- Tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe mô tô hiệu YAMAHAEXCITER, màu xanh đen, gắn biển kiểm soát 29X1 - 6660.10 đã tạm giữ của bị cáo. Quá trình điều tra Ngần Văn L khai mua của một người đàn ông ở thành phố Hòa Bình, không biết tên tuổi, địa chỉ của người này với giá 19.000.000 đồng, khi mua không có giấy tờ đăng ký xe và không viết giấy mua bán xe. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu đã xác định tên chủ sở hữu là anh Hoàng Văn T, nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, quá trình làm việc tại Cơ quan điều tra anh Tú khai ngày 03 tháng 7 năm 2021 anh bị mất trộm tại khu phòng trọ thuộc thôn Đồng Xép, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Giang, sau khi mất trộm đã có đơn trình báo lên công an xã Hoàn Sơn hiện vẫn đang trong qua trình giải quyết, nên đề nghị giao lại cho Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Châu để làm việc với các cơ quan chức năng có liên quan, làm rõ chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHAEXCITER, màu xanh đen, gắn biển kiểm soát 29X1 - 660.10 có phải là vật chứng trong vụ việc mất trộm mà anh Hoàng Văn T đã khai báo tại Công an xã Hoàn Sơn hay không, để xử lý chiếc xe và biển kiểm soát xe, giấy tờ xe theo quy định pháp luật.
Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên Súa mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để mở rộng điều tra, xử lý đề nghị không xét đến.
Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử không thắc mắc gì, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình, nguyên nhân vi phạm pháp luật là do nghiện ma túy, tàng trữ để sử dụng không có mục đích gì khác. Sau sự việc xảy ra đã thành khẩn khai báo mong được giảm nhẹ hình phạt. Về tiền mua chiếc xe mô tô là tiền riêng của bị cáo, không phải là tiền chung của vợ chồng và về chiếc xe mô tô của bị cáo đã trình bày, đề nghị giải quyết theo pháp luật.
Ý kiến của Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Hoàng Văn T vắng mặt tại phiên tòa, tại cơ quan điều tra đã có ý kiến: Tháng 12/2019 anh T có mua chiếc xe xe mô tô nhãn hiệu YAMAHAEXCITER, màu xanh đen với giá 49.000.000 đồng, xe có biển kiểm soát 98F1 – 262.06. Ngày 03/7/2021, anh T bị mất trộm chiếc xe trên tại nhà trọ ở thôn Đồng Xép, xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh và anh đã báo công an xã Hoàn Sơn để trình báo việc mất trộm chiếc xe đến nay vẫn đang trong quá trình giải quyết vụ án.
- Chị Lý Thị Ng có ý kiến: Chị Ngân không biết việc chồng Ngần Văn L tàng trữ trái phép chất ma túy, về chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHAEXCITER , màu xanh đen, gắn biển kiểm soát 29X1 - 660.10. Chị Ngân chỉ nghe chồng Ngần Văn L nói mua chiếc xe mô tô trên vào khoảng tháng 8/2021 của người đàn ông trên thành phố Hòa Bình, chị không biết tên, tuổi, địa chỉ của người nay. Tiền mua xe là tiền riêng của chồng chị. Nay chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết chiếc xe trên theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo bị bắt, bị lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu được, kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 15/10/2021, tại tổ dân phố Chiềng Sại, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, tổ công tác Công an huyện Mai Châu phối hợp với Công an thị trấn Mai Châu và công an xã Đồng Tân bắt quả tang Ngần Văn L đang tàng trữ trái phép 8,80 gam Methamphetamine. Kết quả điều tra xác định Ngần Văn L tàng trữ ma túy nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích gì khác. Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Ngần Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Chứng cứ xác định không có tội: Không có.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp tiến tới xóa bỏ tệ nạn ma tuý trong cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó. Bản thân bị cáo đã từng 02 lần bị kết án, 01 lần bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, nhưng bị cáo không tiến bộ, không lấy đó làm bài học sửa chữa lỗi lầm, mà trái lại cố tình phạm tội, tàng trữ trái phép chất ma tuý với số lượng lớn để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ tính chất mức độ, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nêu trên, xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên Súa mà bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để mở rộng điều tra, xử lý.
Về án phí: Bị cáo Ngần Văn Lâm phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh, hình phạt:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Ngần Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Xử phạt bị cáo Ngần Văn L 06 (sáu) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày tạm giữ 15/10/2021.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số Methamphetamine còn lại sau khi giám định, được niêm phong trong 01 phong bì.
- Giao lại cho cơ quan điều tra Công an huyện Mai Châu để tiến hành làm việc với các cơ quan chức năng có liên quan, làm rõ chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHAEXCITER, màu xanh đen, gắn biển kiểm soát 29X1 - 660.10 có phải là vật chứng trong vụ việc mất xe mà anh Hoàng Văn T đã khai báo tại Công an xã Hoàn Sơn, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh hay không để xử lý chiếc xe, biển kiểm soát xe, giấy tờ xe theo quy định pháp luật.
(Các vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 36/THA ngày 17/5/2021 giữa bên giao Công an huyện Mai Châu, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Ngần Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đến vụ án có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND, VKSND tỉnh HB;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- STP tỉnh HB;
( đã ký)
- Trại tạm giam; Phòng Hồ sơ CAT;
- VKSND huyện MC;
- Cơ quan ĐT; Nhà tạm giữ CA huyện MC;
- Chi cục THA dân sự;
- Hồ sơ THAHS;
- UBND xã Đồng Tân;
- Người TGTT;
- Lưu hồ sơ.
Phạm Thanh Tùng
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
Phạm Thanh Tùng
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh HB; - STP tỉnh HB; - Trại tạm giam; Phòng Hồ sơ CAT; - VKSND huyện MC; - Cơ quan ĐT; Nhà tạm giữ CA huyện MC; - Chi cục THA dân sự; - Hồ sơ THAHS; - UBND xã Đồng Tân; - Người TGTT; - Lưu hồ sơ. Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Thanh Tùng HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Thanh Tùng |