vanban.org

Bản án 21/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 24/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/01/2022.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/HS-ST
Ngày: 24/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Pho.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Đạt.

2. Ông Trương Công Út.

Thư ký phiên tòa: Ông Hứa Quốc Cường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thành – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2022/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2022/QĐXXST-HS, ngày 13 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên Nguyễn Văn D – (tên gọi khác: Đen) sinh năm 1989; nơi sinh: Huyện K – tỉnh Kiên Giang. Nơi cư trú: Tổ 5, khu phố Lò Bom, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam, tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Xem và bà Nguyễn Thị Nhựt; anh chị em ruột: 03 người, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/01/2022 cho đến nay. (Bị cáo có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn T – sinh năm 2000 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 7, khu phố Lò Bom, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

- Người chứng kiến: Phạm Văn M – sinh năm 1964 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 3, khu phố Lò Bom, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 06/01/2022, bị cáo Nguyễn Văn D và đối tượng Nguyễn Văn T trên đường đi làm thuê về cả 02 rủ nhau mua ma túy về sử dụng, T đưa cho D 100.000 đồng, D nhận tiền và về nhà tắm đến khoảng 21 giờ 50 phút, D gọi điện thoại cho đối tượng tên Mú (không rõ nhân thân) ở khu vực Ba Hòn, thị trấn K để mua ma túy sử dụng. D đến khu vực bến xe cũ Ba Hòn thuộc khu phố Kiên Tân, thị trấn K gặp Mú, mua của Mú 01 bịch ma túy giá 200.000 đồng, sau khi mua xong D cất giấu ma túy trên người và đi đến phòng trọ của người bạn tên Nguyễn Thị Phương Thanh đang thuê để ở tại tổ 39, khu phố Cư Xá, thị trấn K, huyện K để sử dụng, khi D vào phòng trọ đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Công an thị trấn K, huyện K kiểm tra bắt quả tang, thu giữ ma túy của D.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: 01 (một) bịch nylong trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng hình dạng không đồng nhất nghi là ma túy, niêm phong gửi giám định.

* Theo kết luận giám định số 27/KL-KTHS ngày 16/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Kiên Giang kết luận: Các hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon, được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1259 gam.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKSKL ngày 19/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện K truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng, án phí: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phòng bì niêm phong mẫu vật, vụ số: 27/2022 có các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, chữ ký của giám định viên Lê Đức Huy và người chứng kiến Trần Trung Tính. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định.

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với vật chứng, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 06/01/2022, tại khu vực tổ 39, khu phố Cư Xá, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, Công an phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn D tàng trữ 01 bịch ma túy loại Methamphetamine, kết quả giám định có khối lượng là 0,1259 gam. Như vậy, hành vi cất giấu ma túy nhằm mục đích sử dụng của D đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất của hành vi vi phạm: Xét hành vi của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ nhận thức để biết rằng hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bất kỳ ai thực hiện đều bị xử lý nghiêm. Ma túy là chất gây nghiện mà nhà nước nghiêm cấm mua bán, tàng trữ dưới mọi hình thực vì vậy việc tàng trữ ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của nhà nước. Bên cạnh đó hành vi của bị cáo còn là nguyên nhân gây nên nhiều loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự ở địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Do đó bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo bị cáo biết tôn trọng pháp luật, thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Bị cáo có nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận và tỏ ra biết ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi lượng hình, giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về xử lý vật chứng: Ma túy là chất cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với người thanh niên tên Mú bị cáo khai là người trực tiếp bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã xác M nhưng không có đối tượng nào có đặc điểm nhận dạng như bị cáo khai nên chưa có cơ sở xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. Đối tượng Nguyễn Văn T là người hùn tiền với bị cáo mua ma túy để sử dụng, trong quá trình điều tra đối tượng T không có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra tiếp tục xác M khi tìm được đối tượng sẽ chứng M làm rõ và đề xuất xử lý theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào:

Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/01/2022.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì có ký hiệu vụ số 27/2022 có chữ ký của Giám định viên Lê Đức Huy và người chứng kiến Trần Trung Tính và hình dấu tròn của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kiên Giang. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/4/2022.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu án phí là 200.000 đồng.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ