- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Nam Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo PVN phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HN TỈNH NA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2022/HS-ST Ngày 27-5-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HN, TỈNH NA
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phan Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Nghĩa Toàn;
Ông Nguyễn Văn Phượng;
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Oanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện HN, tỉnh NA.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HN tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HN, tỉnh NA xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2022 về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2022/HSST-QĐ ngày 16 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ tên: PVN, tên gọi khác: không; sinh ngày 25 tháng 10 năm 1982 tại huyện HN, tỉnh NA; nơi cư trú: xóm YT, xã LX, huyện HN, tỉnh NA; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt N; giới tính: N; Con ông PVĐ, sinh năm: 1949 và bà NTL (đã chết); Vợ NTBD và có 01 con; tiền án: Bản án số 335/2019/HSST ngày 30/7/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vxử phạt PVN 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 19/5/2020, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01 tháng 3 năm 2022 đến nay có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: NĐS, sinh năm 1982; cư trú tại: Xóm YT, xã LX, huyện HN, tỉnh NA. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ ngày 28/02/2022, NĐS (SN 1982), trú tại xóm YT, xã LX, huyện HN, tỉnh NA lên cơn nghiện ma tuý nên đến nhà PVN (SN 1982) là người cùng xóm rủ đi mua ma tuý để sử dụng, gặp N thì S nói:“Có tiền không, đi mua đồ chơi?” N trả lời:“Bựa ni không có tiền, mai mới có”, sau đó S đi về nhà. Đến khoảng 07 giờ ngày 01/3/2022, N đi đến nhà S gặp S ở ngoài cổng thì nói “có tiền rồi, đi không?”, hiểu ý N rủ đi mua ma tuý nên S trả lời:“có”. Sau đó S vào nhà lấy xe mô tô nhãn hiệu HonDa màu xanh không biển kiểm soát chở N đi đến nhà anh Tâm thuộc khu vực chợ Vực thuộc xã LX, huyện HN, NA để cầm máy điện thoại của N được 300.000 đồng. N đưa tiền cho S, cả hai đi xuống khu vực phường Cửa N, thành phố Vinh, NA rồi dừng xe bên đường, S mượn điện thoại của người đi đường gọi vào số điện thoại 0983649592 (được viết sẵn trong giấy) của người phụ nữ tên là Hoa ở phường ĐV, thành phố V, NA và nói:“Để em ba trăm”, Hoa trả lời: “Qua quán bún 167 Nguyễn Trường Tộ mà lấy”. Khi đến quán bún thấy người phụ nữ tên Hoa đi ra, S đưa cho Hoa 300.000 đồng rồi nhận lại một gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc, bên trong gói bằng giấy trắng, trong cùng là ma tuý (heroin), rồi S chở N về để cùng sử dụng. Khi đi đến khu vực xã HT, huyện HN, NA, S đưa gói ma tuý cho N cầm và đến cây xăng XĐ thuộc xóm ĐT, xã LX, huyện HN, NA để đổ xăng. Lúc này tổ Công tác Công an huyện HN tiến hành kiểm tra thì N ném gói nhỏ có chứa ma tuý xuống đất (cách chỗ N đứng 1 mét), tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói ma tuý theo đúng quy định rồi đưa hai đối tượng về trụ sở để làm việc.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi phạm tội của mình, về kết luận giám định và vật chứng vụ án nêu trên.
Bản cáo trạng số 30/CT-VKS-HS ngày 26 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HN, tỉnh NA đã truy tố Nguyễn Văn N đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Đại diện VKSND huyện HN giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội nên VKS giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh đề nghị HĐXX tuyên bố: Bị cáo NV N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 03 năm 2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Vật chứng và án phí xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo trình bày lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện HN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện HN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của Bị cáo là thống nhất với nhau; Phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang vào hồi 09 giờ 45 phút, ngày 01 tháng 3 năm 2022; Biên bản khám xét vào hồi 10 giờ 00 phút, ngày 01 tháng 3 năm 2022 tại chỗ ở của Nguyễn Văn N; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ vào hồi 11 giờ 00 phút, ngày 01 tháng 3 năm 2022; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 11 giờ 05 phút, ngày 01 tháng 03 năm 2022; Bản kết luận giám định số 320/KL- KTHS(Đ2-MT) ngày 05 tháng 03 năm 2022; Phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do nghiện ma túy nên bị cáo Nguyễn Văn N đã có hành vi tàng trữ 0,03 gam hêrôin để sử dụng thì bị Công an huyện HN phát hiện bắt quả tang.
Như vậy, căn cứ vào khối lượng ma túy và hành vi của bị cáo và đối chiếu với quy định của Bộ luật hình sự, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N có đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015.
. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết và nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do bị cáo là người nghiện nên mua ma túy, tàng trữ ma túy để thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Vì vậy, cần phải xử phạt tù đối với bị cáo mới đủ tính chất răn đe giáo dục bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Số ma túy (Methamphetamine) thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Về án phí:Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội buộc Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo PVN phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo PVN 15 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn tù tính từ ngày 01 tháng 03 năm 2022. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì thư Công văn Công an huyện HN được dán kín, trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia. Mặt trước có ghi “Gói niêm phong vật chứng thu giữ của PVN (1982) và NĐS (1982) cùng trú tại xóm YT, xã LX, huyện HN, NA vào ngày 01/3/2022 tại xóm Đình Tiến, xã LX, huyện HN, NA. Sau khi mở niêm phong xác định cân khối lượng lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại”; 01 (một) tờ giấy có gạch kẻ ngang có ghi số “0983649592”. (Chi tiết có tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 4 năm 2022)
Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Về quyền kháng cáo: Thời hạn kháng cáo bản án đối với bị cáo có mặt là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND huyện HN; - Công an huyện HN; - Chi cục THA huyện HN; - Bị cáo; - Lưu HSVA. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Văn Hải – Nguyễn Văn Toàn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phan Hƣơng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Phan Hƣơng |