vanban.org

Bản án 21/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 18/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Huy L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự +Xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; luật hình sự phạt bổ sung
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 21/2022/HS-ST
Ngày: 18/4/2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tiến Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hoa

2. Bà Trần Thị Thanh Thủy.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng.

Đại diện VKSND huyện Đông Hưng tham gia phiên toà: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 4 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2022/TLST-HS ngày 22/3/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST- HS ngày 04/4/2022 đối với bị cáo:

Phạm Huy L, sinh ngày 07/02/1969;.Tại: thôn K, xã LG, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: thôn K, xã LG, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 7/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Huy L (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Kh (đã chết); Có vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 và có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1999.

Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 7908/QĐ-XPHC ngày 02/12/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xử phạt Phạm Huy L về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng. Đã nộp phạt ngày 16/12/2020.

Tiền án: Không;

Nhân thân:

Còn nhỏ đi học đến lớp 7/10. Tháng 3 năm 1997 tham gia nghĩa vụ quân sự, đến tháng 3 năm 1990 xuất ngũ trở về địa phương sinh sống, lao động tự do.

-Ngày 17/3/2005 bị Công an huyện Đông Hưng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 724/QĐ-XPVPHC về hành vi dùng nhà ở của mình để “Chứa bạc” bằng hình thức phạt tiền 3.000.000 đồng, đã nộp phạt ngày 17/3/2005.

-Ngày 10/10/2011 bị Công an huyện Đông Hưng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 288/QĐ-XPHC về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng, đã nộp phạt ngày 25/10/2011.

-Ngày 29/02/2016 bị Công an huyện Đông Hưng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5994/QĐ-XPHC về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 08/3/2016.

-Ngày 09/11/2016 bị Công an huyện Đông Hưng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6028/QĐ-XPHC về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng, đã nộp phạt ngày 09/11/2016.

Ngày 19/3/2019 bị Chủ tịch UBND huyện Đông Hưng ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1232/QĐ-XPVPHC về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng, đã nộp phạt ngày 19/3/2019.

Bị cáo bị bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

+ Người làm chứng :

- Phạm Văn L sinh năm 1969 trú tại thôn K, xã LG, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; Phạm Huy D, sinh năm 1971 và Nguyễn Bá V, sinh năm 1969, trú tại thôn V, xã LG, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

( Anh Dưỡ ng có mặt tại phiên tòa; anh L và anh V vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 16/9/2021, Phạm Huy D, sinh năm 1971, trú tại thôn V, xã LG, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đi bộ thể dục trên trục đường thôn thì gặp bạn là Nguyễn Bá V. Khi gặp nhau, V nói với D “Lát có qua thăm hỏi anh L bị ốm thì mua bộ bài cầm sang”, D hiểu ý là khi sang nhà L hỏi thăm xong thì sẽ đánh bạc nên đồng ý. Sau đó D vào quán tạp hóa của anh Nguyễn Bá Tuyến, sinh năm 1973 ở thôn Kim Ngọc 1, xã Liên Giang, huyện Đông Hưng mua 02 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ bài 52 quân với giá 7.000 đồng/01 bộ, rồi đi bộ đến nhà Phạm Văn L. Tại nhà L lúc này có Phạm Huy L; Nguyễn Bá V và Nguyễn Năng D1 đều trú tại xã Liên Giang đang ngồi chơi uống nước ở gian phòng khách. Được khoảng 10 phút thì V và L nói với L “Tý cho chơi phỏm tí”, L hiểu ý là mọi người chơi đánh bạc tại nhà mình và đồng ý. Sau đó V, D, D1, L xuống gian bếp ở nhà ngang nhà L, lấy chiếu cói có sẵn trong phòng trải ra giữa nhà; D bỏ 2 bộ bài đã mua xuống chiếu, tất cả ngồi xuống chiếu để đánh bạc, hình thức chơi “đánh phỏm” thắng thua bằng tiền. Ngồi gần ngay lối cửa ra vào là L, ngồi đối diện L là D, ngồi bên phải L là V, ngồi bên trái L là D1. Tất cả cùng thống nhất cách chơi như sau: Bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài được chia đều cho 04 người chơi, người đánh đầu tiên được chia 10 quân bài, những người chơi còn lại mỗi người được chia 09 quân bài, số quân bài còn thừa xếp chồng lên nhau và để giữa chiếu, những ván tiếp theo người nhất ở ván trước sẽ được chia 10 quân bài và giành quyền đánh trước; “phỏm” là có 03 hoặc 04 lá bài cùng số hoặc từ 03 lá bài trở lên cùng chất và có số thứ tự liên tiếp nhau; “ù” là khi hạ “phỏm” không còn lá bài nào lẻ trên tay; “cháy” là khi kết thúc ván bài đó không có “phỏm”; quân bài “K” tương ứng 13 điểm, quân bài “Q” tương tứng 12 điểm, quân bài “J” tương ứng 11 điểm, quân bài “A” tương ứng 01 điểm, các quân bài từ 2 đến 10 tương ứng với số điểm từ 2 đến 10 điểm. Khi chơi, người được chia 10 quân bài rút 01 quân bài trên tay đánh cho người ngồi cạnh bên phải, nếu người này ăn quân bài đó để tạo thành “phỏm” thì phải lấy 01 quân bài trên tay đánh cho người ngồi cạnh bên phải; nếu không ăn quân bài đó thì được bốc 01 quân bài để ở dưới chiếu, rồi chọn lấy 01 quân bài trên tay đánh cho người ngồi cạnh bên phải. Cứ đánh lần lượt như thế cho đến khi nào bốc hết số quân bài dưới chiếu. Quá trình chơi nếu có người “ù” thì những người còn lại phải trả cho người “ù” 50.000 đồng/01 người. Nếu không có người “ù” thì khi kết thúc ván bài, những người chơi cùng hạ “phỏm” và tính điểm, ai ít điểm nhất sẽ về nhất và những người ít điểm thứ hai, ba, tư phải trả cho người về nhất tương ứng số tiền 10.000 đồng, 20.000 đồng, 30.000 đồng; nếu cả 4 người chơi đều bằng điểm nhau thì người nào hạ bài trước sẽ là người thắng; nếu người nào “cháy” thì phải trả cho người về nhất 40.000 đồng. Cả bốn người đánh bạc đến khoảng 22 giờ 45 phút thì bị Công an xã Liên Giang bắt quả tang, thu giữ các vật chứng, tài sản gồm: 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ gồm 52 quân bài; 01 chiếu cói có họa tiết hoa văn màu đỏ in dòng chữ “Mừng hạnh phúc” đã cũ. Quản lý trong người Nguyễn Bá V số tiền 49.000 đồng (Bốn mươi chín nghìn đồng), của Nguyễn Năng D1 số tiền 3.303.000 đồng (Ba triệu ba trăm linh ba nghìn đồng), của Phạm Huy D số tiền 2.650.000 đồng (Hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng), của Phạm Huy L số tiền 9.940.000 đồng (Chín triệu chín trăm bốn mươi nghìn đồng). Tổng số tiền quản lý là 15.942.000 đồng.

Qua tài liệu điều tra đủ căn cứ chứng minh:

V mang theo và sử dụng số tiền 949.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thua 900.000 đồng còn lại 49.000 đồng để trong túi quần hậu bên phải đang mặc. D1 mang theo 3.603.000 đồng, sử dụng 3.550.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thua 300.000 đồng, để 3.250.000 đồng trong túi quần trước bên phải đang mặc, còn 53.000 đồng để túi quần hậu bên phải không sử dụng đánh bạc. D mang theo 2.600.000 đồng, sử dụng 1.000.000 để đánh bạc, còn lại 1.600.000 đồng không sử dụng để đánh bạc, khi bị bắt đang thắng 50.000 đồng, do hoảng sợ nên đã gộp toàn bộ số tiền 2.650.000 đồng giấu dưới chỗ D ngồi. Bị can L mang theo 8.790.000 đồng, sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc, khi bị bắt đang thắng 1.150.000 đồng, để tất cả số tiền 9.940.000 đồng trong túi quần trước bên phải. Phạm Văn L không tham gia đánh bạc, nhưng đồng ý cho các đối tượng V, D1, D và bị can L đánh bạc tại nhà mình.

Tổng số tiền các đối tượng V, D1, D và bị can L sử dụng đánh bạc là: 7.999.000 đồng (Bảy triệu chín trăm chín mươi chín nghìn đồng).

Số tiền xác định không sử dụng vào việc đánh bạc là: 7.943.000 đồng, trong đó của D1 53.000 đồng, D 1.600.000 đồng, L 6.290.000 đồng. Quá trình đánh bạc không có ai canh coi, bảo vệ, không có ai tổ chức cho vay, cầm cố, thế chấp tài sản để đánh bạc, không có ai thu tiền hồ.

Các đối tượng Nguyễn Bá V, Nguyễn Năng D1, Phạm Huy D và Phạm Văn L đã bị Tòa án huyện Đông Hưng đã xét xử tại bản án hình sự sơ thẩm số 111/2021/HSST ngày 31/12/2021. Bị cáo Phạm Huy L sau khi phạm tội bỏ trốn khỏi địa phương, bị Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng ra quyết định truy nã, ngày 08/02/2022 bị cáo L đến Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đầu thú.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSĐH ngày 21/3/2022Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng đã truy tố bị cáo: Phạm Huy L - Về tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên trình bày bản luận tội:

Tại phiên tòa sơ thẩm không có tình tiết nào mới, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố.

Đề nghị tuyên bố bị cáo Phạm Huy L – Phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điề u tra và tạ i phiên toà bị cá o đã thành khẩn khai báo về

hành vi phạm tội của bản thân; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bản thân có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự; có bố vợ là liệt sỹ; bị can đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i; s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

Đề nghị: Áp dụng Khoản 1 và Khoản 3 Điều 321; Điề u 38; Điều 50; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt: Bị cáo từ 06 tháng tù đến 07 tháng tù.

- Về hình phạt bổ sung : Đề nghị phạ t tiề n tư 3 triề

̣ u đồ ng đế n5 triệ u đồ ng.

+Về vật chứng và tài sản thu giữ:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 111/2021/HSST ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng đã xử lý cá c vậ t chứ ng riêng đ ối với số tiền thu của Phạm Huy L 6.290.000 đồng, do L đã bỏ trốn bản án đã quyết định: Tiếp tục quản lý, khi nào bắt được L sẽ xử lý sau.

Do đó , số tiề n quản lý của Phạm Huy L 6.290.000 đồng không sử dụ ng vào đánh bạc cần trả lại cho bị cáo L.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[I[ Về tố tụ ng:

Trong quá trì nh điề u tra, truy tố cá c Điề u tra viên , Kiể m sá t viên đã tiế n hành thu thập các tài liệu , chứ ng cứ theo đú ng cá c quy đị nh củ a Bộ luậ t tố tụ ng hình sự. Bị cáo, không có khiế u nạ i, tố cá o. Do đó cá c tà i liệ u , chứ ng cứ trong hồ sơ vụ á n là hợ p phá p.

[II] Về nộ i dung:

[1] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Huy L đã khai nhận:

Khoảng hơn 19 giờ ngày 16/9/2021 Phạm Huy L đến hỏi thăm Phạm Văn L, sinh năm 1969, trú tại thôn K, xã LG, huyện Đông Hưng bị ốm. Khi đế n nhà L thì có Phạm Huy D, Nguyễn Bá V và Nguyễn Năng D1 đến. Hỏi thăm Phạm Văn L đượ c khoả ng 10 phút thì V và L nói với L “Tý cho chơi phỏm tý”, L hiểu ý là mọi người chơi đánh bạc tại nhà mình và đồng ý. Sau khi L đồ ng ý thì L, Dũng, V và Dưỡng đã cùng nhau đánh phỏm ăn tiền như nội dung bản cáo trạng đã mô tả .

Trướ c khi đế n nhà L thì L đem theo 8.790.000 đồng nhưng chỉ sử dụng 2.500.000 đồng để đánh bạc số tiề n cò n lạ i L dành để trả nợ.

Lời khai của bị cáo Phạm Huy L phù hợp lờ i khai củ a Nguyễn Năng D1, Nguyễn Bá V, Phạm Huy D và Phạm Văn L. Cùng với vật chứng thu giữ , đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Huy L đã phạm tội “Đánh bạc” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Điều 321. Tội Đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

…

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Phạm Huy L là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mấ t trậ t tự cho đị a phương.

[2] Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội:

Với số lượng tiền dùng vào việc đánh bạc là 7.999.000 đồng thì hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Huy L thuộc trường hợp ít nghiêm trọ ng.

[3]Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào.

[4]Tình tiết giảm nhẹ:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của bản thân; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bản thân có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự; có bố vợ là liệt sỹ; bị can đầu thú nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i; s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo L đã có 05 lầ n bị xử a phạt hà nh chí nh về hà nh vi đá nh bạ c và01 tiề n sự về hà nh vi đá nh bạ c lại tiếp ttucj phạm tội Đánh bạc. Do đó , cầ n á p dụ ng hì nh phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ để giáo dục và cải tạo bị cáo.

[5]Về hì nh phạt bổ sung:

- Qua hồ sơ xét thấy các bị cáo L không có nghề nghiệp ổn định. Do đó cần áp dụng khoản 3 điều 31 của bộ luật hình sự phạt bổ sung đối với bị cáo L là 3.000.000đồng ( Ba triệ u đồ ng).

[6] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 111/2021/HSST ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng đã quyết định:

- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc chiếu và 02 bộ bài tú lơ khơ (mỗi bộ 52 quân) .

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền mà các bị cáo dùng vào đánh bạc là 7.999.000 đồng (Trong đó của V 949.000 đồng, D1 3.550.000 đồng để đánh bạc, D 1.000.000 đồng và của L 2.500.000 đồng).

- Trả lại cho bị cáo D1 53.000 đồng, bị cáo D 1.600.000 đồng.

Do đó , trong vụ á n nà y không đặ t ra giả i quyế t nữ a.

- Đối với số tiền thu và quản lý của Phạm Huy L 6.290.000 đồng, do L đã bỏ trốn bản án đã quyết định: Tiếp tục quản lý, khi nào bắt được L sẽ xử lý sau.

Do đó , số tiề n đã thu của Phạm Huy L 6.290.000 đồng sẽ được chuyển thành khoản thi hành án tiền phạt bổ sung và tiền án phí đố i vớ i Phạm Huy L. Số tiề n cò n dư sẽ đượ c hoà n trả cho Phạm Huy L.

[7] Về án phí:

Bị cáo PhạmHuy L phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh:

Tuyên bố : Bị cáo Phạm Huy L - Phạm tội “ Đá nh bạ c”

[2] Về áp dụng luật và hình phạt:

- Áp dụng Khoản 1 và Khoản 3 Điều 321; Điề u 38; Điều 50; Điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự

+Xử phạt bị cáo Phạm Huy L 07 (bảy)tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành hình phạt tù.

- Áp dụng Khoản 3 Điều 31 của bộ luật hình sự;

Phạt bổ sung đối với các bị cáo : Phạm Huy L 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) để sung công quỹ nhà nước.

[3] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:

- Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Số tiề n thu của Phạm Huy L 6.290.000 đồng sẽ được chuyển thành khoản thi hành án tiền phạt bổ sung và án phí hình sự đố i vớ i Phạm Huy L. Số tiề n cò n dư sẽ đượ c hoà n trả cho Phạm Huy L.

(Số tiề n 6.290.000đồng đã đượ c chuyể n giao cho Cơ quan thi hà nh á

n dân sự huyệ n Đông Hưng theo hồ sơ vụ á n hình sự sơ thẩm số 111/2021/HSST ngày 31/12/2021 của Tòa á n nhân dân huyệ n Đông Hưng).

[4] Về án phí:

- Căn cứ vào Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí.

Bị cáo Phạm Huy L phải chịu 200.000đ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo:

Bị có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ