vanban.org

Bản án 21/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 30/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch 36 ( ba mươi sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm văn Ch - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/HS-ST
Ngày 30/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiểm.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Tâm.

2. Ông Đồng Văn Nghiên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Tân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2022/TLST- HS ngày 22 tháng 4 năm 2022; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2022/ QĐXXST - HS ngày 16 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn Ch (Không co tên gọi khác), sinh ngày 19 tháng 10 năm 1977 tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm CM, xã LT, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: Lớp 4/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Duy H và bà Đỗ Thị Thơ; vợ: Hoàng Thị H; có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2015.Tiền sự: Không; tiền án: 02.

Tại bản án số: 12/2019/HSST, ngày 27/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Phạm Văn Ch 18 ( mười tám) tháng tù, về tội: "Trộm cắp tài sản", bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/11/2020.

Tại bản án số: 13/2019/HSST, ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xử phạt Phạm Văn Ch 09( Chn) tháng tù, về tội: "Trộm cắp tài sản". Tổng hợp hình phạt 18 ( mười tám) tháng tù của bản án số 12/2019/HSST ngày 27/5/2019 của Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 27( hai mươi bảy) tháng tù. Bị cáo chưa chấp hành hình phạt 09 ( Chn) tháng tù của bản án số 13/2019/HSST, ngày 22/8/2019 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.

Nhân thân:

+ Tại Bản án số 09/HSST ngày 17/7/2001 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Phạm Văn Ch 24 ( hai mươi tư) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

+ Tại Bản án số 11/HSST ngày 09/8/2001 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Phạm Văn Ch 15 ( mười lăm) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”. Bản số 147/HSPT ngày 10/9/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm Bản án số 11/HSST ngày 09/8/2001, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 11/HSST ngày 09/8/2001 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

+ Tại Bản án số 18/HSST ngày 10/10/2001 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Phạm Văn Ch 09 ( Chn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án số 206/HSPT ngày 16/11/2001 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phức thẩm Bản án sơ thẩm số 18/HSST ngày 10/10/2001, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 18/HSST ngày 10/10/2001 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

+ Tại Bản án số 23/HSST ngày 06/12/2001 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Phạm Văn Ch 15 ( mười lăm) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

+Tại Bản án số 11/2007/HSST ngày 24/4/2007 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt Phạm Văn Ch 18 ( mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/01/2022 đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến:

Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1972; Trú tại: Xóm BC, xã KP, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

Anh Hà Văn T, sinh năm 1972; Trú tại: Xóm BC, xã KP, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 11/01/2022, Công an xã Kim Phượng, huyện Đ nhận được tin báo của quần chúng nhân dân cung cấp tại nhà của Hà Văn Dũng (Sinh năm 1967, trú tại xóm Bản Cải, xã Kim Phượng, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) đang có một số đối tượng tụ tập có biểu hiện liên quan đến tội phạm về ma túy nên tiến hành kiểm tra, xác minh. Khi tổ công tác của Công an xã Kim Phượng đến nhà của ông Dũng thì có Phạm Văn Ch đang có mặt tại đây, còn Dũng không có ở nhà. Khi được yêu cầu kiểm tra hành Chnh, Ch đã tự giác lấy 02 gói nhỏ, bên trong có chứa chất bột màu trắng được gói bằng giấy bạc màu vàng (Ch khai là ma túy, loại Heroine) từ trong túi quần bên phải phía trước mà Ch đang mặc, giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác của Công an xã Kim Phượng, huyện Đ đã tiến hành niêm phong tang vật, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Định Hoá giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 11/01/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ phối hợp với Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên, tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Phạm Văn Ch khi bắt quả tang (trong bì niêm phong ký hiệu C1) là 0,321g (không phẩy ba hai mốt gam), niêm phong toàn bộ trong phong bì kí hiệu C2 gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 232/KL-KTHS ngày 19/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu C2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine; có khối lượng là 0,321 gam.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Phạm Văn Ch khai nhận như sau: Bản thân Ch là đối tượng nghiện chất ma túy, khoảng 14 giờ ngày 11/01/2022, Ch đi nhờ xe mô tô của một người đi đường (Ch không quen biết) từ nhà ra khu vực xã Kim Phượng, huyện Đ mục đích đi tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến khu vực dốc Đỏ, thuộc xóm Bản Cải, xã Kim Phượng, huyện Đ, Ch gặp và hỏi mua ma túy của một người đàn ông không quen biết, khoảng 30 tuổi thì được người này đồng ý. Ch đưa cho người đàn ông này số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), người đàn ông cầm tiền và đưa lại cho Ch 01 (một) gói ma túy được gói bằng giấy bạc màu vàng. Sau khi cầm gói ma túy, Ch đi bộ đến nhà Hà Văn Dũng (sinh năm 1967, trú tại: xóm Bản Cải, xã Kim Phượng, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) cách đó khoảng 200m hướng Chợ Chu đi Chợ Đồn, Bắc Kạn để chơi. Khi đến nhà Dũng, Ch thấy cửa mở nhưng không có ai ở nhà nên Ch đã tự ý vào nhà. Khi vào phòng khách nhà Dũng, Ch lấy gói ma túy vừa mua được chia thành 02 (hai) gói nhỏ để sử dụng thành nhiều lần. Khi Ch đang chuẩn bị tìm công cụ để sử dụng sử dụng ma túy thì tổ công tác của Công an xã Kim Phượng, huyện Đ đến và yêu cầu kiểm tra hành Chnh, Ch đã tự lấy 02 gói ma túy mua được trước đó giao nộp cho tổ công tác như đã nêu trên. Về nguồn gốc số tiền 100.000 đồng Ch dùng để mua ma túy, Ch khai do bản thân lao động mà có. Quá trình từ trước khi mua được ma túy đến khi bị Công an xã Kim Phượng kiểm tra hành Chnh, bắt quả tang, thu giữ tang vật, Ch không hỏi hoặc thông báo cho Dũng biết về việc Ch mang ma túy đến nhà Dũng và có ý định sử dụng ma túy tại đó thì bị tổ công tác của Công an xã Kim Phượng, huyện Đ kiểm tra hành Chnh và thu giữ tang vật như đã nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu C2 bên trong có 0,310 (không phẩy ba một không) gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong ký hiệu C3, bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng khi bắt quả tang thu giữ Phạm Văn Ch và 02 (hai) mảnh giấy bạc màu vàng.

Bản cáo trạng số 20/CT – VKS ngày 21/4/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Phạm Văn Ch ra trước Tòa án nhân dân huyện Đ , tỉnh Thái Nguyên để xét xử bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xác định việc truy tố tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đối với bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai. Bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình.

Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Kiểm sát viên giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Văn Ch về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội : "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

- Áp dụng: Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch từ 30 đến 36 tháng tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt 09 ( Chn) tháng tù về tội « Trộm cắp tài sản » tại bản án số 13/2019/HSST, ngày 22/8/2019 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn bị cáo chưa chấp hành, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 2 bản án. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 11/01/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu C2 bên trong có 0,310 (không phẩy ba một không) gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong ký hiệu C3, bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng, 02 mảnh giấy bạc màu vàng khi bắt quả tang thu giữ Phạm Văn Ch.

- Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Ch phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo đối với bản án.

Phần tranh luận: Bị cáo không tranh luận, bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn Ch, Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Ch đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai, các bản tự khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan Điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định:

Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 11/01/2022, tại khu vực xóm Bản Cải, xã Kim Phượng, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Phạm Văn Ch đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,321 gam (không phẩy ba hai mốt gam) ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác của Công an xã Kim Phượng, huyện Đ phát hiện bắt quả tang.

Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a. ...

c. Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam".

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Phạm Văn Ch về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Đánh giá về hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:

- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự; xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo cố ý thực hiện.

- Về nhân thân: Bị cáo Ch có nhân thân xấu, có đủ trình độ nhận thức để điều chỉnh hành vi xử sự của bản thân cho đúng với các qui định của pháp luật, nhưng do ham ăn chơi, đua đòi nên bị cáo nghiệm ma túy, nhiều lần bị xử phạt tù về tội "Trộm cắp tài sản" và "Hủy hoại tài sản". Sau khi chấp hành án về địa phương bị cáo bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội. Ngược lại bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản, tiếp tục bị xử phạt tù, ngày 24/11/2020 bị cáo mới chấp hành xong hình phạt tù của bản án số: 12/2019/HSST, ngày 27/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, chưa chấp hành hình phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại bản án số 13/2019/ HSST ngày 22/8/2019 của Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, bị cáo tiếp tục có hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật hình sự. Bị cáo có 02 tiền án, tại bản án số: 12/2019/HSST, ngày 27/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, xử phạt 18 tháng tù, về tội: "Trộm cắp tài sản"; bản án số 13/2019/HSST, ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn, xử phạt Phạm Văn Ch 09 tháng tù, về tội: "Trộm cắp tài sản". Vì vậy, bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là "Tái phạm" theo quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự đối với bị cáo, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để tập trung cải tạo mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về tổng hợp hình phạt chưa thi hành đối với bị cáo: Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn xét xử và tuyên phạt 09 (Chn) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Bị cáo xác định hình phạt 09 (Chn) tháng tù của bản án số 13/2019/HSST, ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn đến nay bị cáo chưa chấp hành. Do vậy cần tổng hợp hình phạt đối với bị cáo theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng của vụ án: Số ma túy còn lại sau giám định và giấy bạc gói ma túy; các vỏ bì niêm phong cần tịch thu, tiêu hủy toàn bộ.

Về án phí hình sự sơ thẩm : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số Hêrôin bị thu giữ, Phạm Văn Ch khai nhận mua của 01 người đàn ông không quen biết tại đoạn đường thuộc xóm Bản Cải, xã Kim Phượng, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, bị cáo không biết rõ tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ.

Đối với Hà Văn Dũng là chủ sở hữu ngôi nhà nơi Phạm Văn Ch bị bắt quả tang về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" ngày 11/01/2022 nhưng Dũng không biết và cũng không được cho phép Ch mang ma túy vào nhà mình, không biết việc Ch có ý định sử dụng ma túy tại nhà mình nên không có căn cứ xem xét, xử lý trách nhiệm hình sự.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc áp dụng hình phạt, xử lý vật chứng và về án phí đối với bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Ch phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

1.Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Ch 36 ( ba mươi sáu) tháng tù.

Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự. Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tổng hợp hình phạt 09 (Chn) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản” bị cáo chưa chấp hành tại bản án số 13/2019/HSST, ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 45 ( bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 11 tháng 01 năm 2022.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 30 tháng 6 năm 2022).

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu C2 bên trong có 0,310 (không phẩy ba một không) gam ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; 01 phong bì niêm phong, bên trong là vỏ bì niêm phong vật chứng; 02 mảnh giấy bạc màu vàng, ký hiệu C3.

( Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 26/4/2022, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ).

3.Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 135,136, 331,333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Phạm Văn Ch phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ