- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Trần Hoài P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 260 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC TỈNH LA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2022/HS-ST Ngày: 01 - 6 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN ĐƯỚC, TỈNH LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Khoa
Bà Ngô Hồng Điệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dânhuyện CĐ, tỉnh LA tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Vi - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 17/2022/TLST- HS ngày 12 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Hoài P; Tên gọi khác: Tý; Sinh năm: 1993; Tại: LA; Nơi cư trú: ấp 3, xã PT, huyện CĐ, tỉnh LA; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn H, (chết) và bà: Nguyễn Thị M; Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cứ trú từ ngày 07/02/2022 cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Trần Văn Gi, sinh năm: 1959 (đã chết);
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Đặng Thị Nh, sinh năm: 1959 (vợ ông Gi); Địa chỉ: ấp XC, xã TL, huyện CĐ, tỉnh LA.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nh: Anh Trần Thanh L, sinh năm: 1982 (có mặt); Địa chỉ: ấp XC, xã TL, huyện CĐ, tỉnh LA.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Phan Văn LH, sinh năm 1975 (có mặt);
Địa chỉ: ấp 4, xã PT, huyện CĐ, tỉnh LA.
2/ Ông Trần Thanh L, sinh năm 1982 (có mặt);
Địa chỉ: ấp XC, xã TL, huyện CĐ, tỉnh LA.
3/ Ông Trần Thanh S, sinh năm 1980 (có mặt);
Địa chỉ: Số 233/51 Võ Văn Kiệt, phường Cô Giang, quận 1, thành phố A.
4/ Bà Trần Thị Lệ D, sinh năm 1977 (có mặt);
Địa chỉ: Số 251, Lê Đại Hành, phường 13, quận 11, thành phố A.
5/ Bà Trần Thị Thanh Th, sinh năm 1985 (có mặt);
Địa chỉ: Số 006C, Hà Kiều, đường số 13, phường 5, quận GV, thành phố A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Về hành vi của bị cáo: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 05/12/2021, Trần Hoài P không có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển số 62L1-399.32 có dung tích xi lanh 142cm3 chở anh Phan Văn LH ngồi sau lưu thông trên đường Tỉnh Lộ 826 hướng cầu Rạch Đào, xã Mỹ Lệ đi đến ngã ba TL, xã TL. Khi đến đoạn đường thuộc ấp XC, xã TL, huyện CĐ thì thấy ông Trần Văn Gi đang ngồi trên xe đạp ở phía trước, bên lề phải, cách khoảng 15m. Lúc này, P điều khiển xe với tốc độ khoảng 50km/h, vừa điều khiển xe vừa nói chuyện với anh LH. Khi P quay lại, cách khoảng 05m thì thấy ông Gi đạp xe băng qua đường. P vừa phanh xe, vừa lái sang trái để tránh ông Gi, nhưng do khoảng cách quá gần, không kịp xử lý nên xảy ra chạm với xe đạp của ông Gi, gây ra tai nạn giao thông tại phần đường bên trái (đường ngược chiều) của P. Hậu quả, ông Gi bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy, đến ngày 06/12/2021 thì tử vong do chấn thương sọ não. P bị gãy xương đòn bên phải, LH bị thương tích nhẹ.
Kết quả khám nghiệm hiện trường: Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng, được trải nhựa, bề mặt phẳng, có chiều rộng là 07m, có vạch kẻ đứt quãng chia mặt đường thành hai chiều xe riêng biệt, mỗi bên chiều rộng là 3,5m. Khám nghiệm hiện trường theo hướng từ cầu Rạch Đào đi ngã ba TL, lấy mép lề phải làm chuẩn, các số đo vào mép lề phải được đo vuống góc, lấy trụ điện số H17 bên lề phải làm mốc cố định.
Sau khi sự việc xảy ra, các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương M và qua kết quả khám nghiệm, đo đạc thì xác định khu vực va chạm nằm ở phần đường bên trái theo hướng lưu thông của xe mô tô biển số 62L1-399.32, vị trí va chạm cách mép lề chuẩn là 4,2m.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 1026/2021/KLGĐ ngày 10/12/2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh LA kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định: Vùng cung mày mắt trái có vết rách da dài 05cm được khâu lại với 7 mũi chỉ rời.
Rách da mặt trước cẳng chân trái dài 4cm, gãy 1/3 trên xương cẳng chân trái.
Bầm tụ máu dưới da đầu chiếm hết vòm sọ. Vỡ xương hộp sọ vùng trán thái dương hai bên dài 19cm.
Tụ máu dưới màng cứng bán cầu trái, dập não xuất huyết vùng trán thái dương trái.
Kết quả xét nghiệm Realtime PCR SARS-CoV-2: Dương tính (Ct: 35.95)
2. Nguyên nhân chết: bị tử vong do chấn thương sọ não. Nạn nhân dương tính Sars-CoV-2.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo bị truy cứu về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng, không oan sai.Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo tự nguyện khai báo; không có ai đe dọa, cưỡng ép, không ai bức cung nhục hình; Bị cáo không có ý kiến về Kết luận giám định pháp y, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo và gia đình của bị hại tự nguyện thỏa thuận, khắc phục bồi thường tổng số tiền 50.000.000đồng.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Nh (đại diên hợp pháp của người bị hại) anh Trần Thanh L trình bày: Anh là con ruột của ông Gi, bà Nh. Sau khi ông Gi bị tai nạn tử vong, bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận, khắc phục bồi thường tổng số tiền 50.000.000đồng. Anh đại diện cho bà Nh không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác, kể cả tổn thất về tinh thần. Về trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi – nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh L,chị Th, anh S, chị D trình bày: Anh, chị là con ruột của ông Gi, bà Nh. Sau khi ông Gi bị tai nạn tử vong, bị cáo và gia đình anh, chị đã tự nguyện thỏa thuận, khắc phục bồi thường tổng số tiền 50.000.000 đồng. Anh, chị không yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác, kể cả tổn thất về tinh thần. Về trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi – nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh LH trình bày: Diễn biến sự việc xảy ra tai nạn giao thông giữa bị cáo P và ông Gi đúng như bị cáo trình bày. Sau khi tai nạn xảy ra anh bị thương tích nhẹ, anh không yêu cầu bị cáo bồi thường gì. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo nuôi mẹ già thường xuyên đau bệnh.
Bản Cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 09/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, tỉnh LA truy tố bị cáo Trần Hoài P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Trần Hoài P đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Hoài P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại và gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự. Cha của bị cáo được tặng Huy hiệu vì nghĩa vụ quốc tế, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, Huân chương chiến công hạng ba. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Hoài P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại. Gia đình người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Ý kiến của bị cáo về quyết định truy tố của Viện kiểm sát: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, việc bị cáo bị truy tố về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là không oan, không sai; bị cáo không có ý kiến gì về tội danh và hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị. Chỉ xin Hội đồng xét xử giảm án và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội ở nhà chăm sóc mẹ già trên 70 tuổi và đi làm kiếm tiền trả nợ. Anh L đại diện cho bà Nh và chị Th, chị D xin Hội đồng xét xử nếu được cho bị cáo hưởng án treo, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội ở nhà chăm sóc mẹ già.
Bị cáo không có lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CĐ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CĐ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét nội dung vụ án: Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 05/12/2021,Trần Hoài P không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển số 62L1-399.32 chở Phan Văn LH ngồi sau lưu thông trên đường Tỉnh Lộ 826 hướng từ cầu Rạch Đào, xã Mỹ Lệ về ngã ba TL, xã TL. Khi đến đoạn đường thuộc ấp XC, xã TL, huyện CĐ thì xảy ra chạm với xe đạp của ông Gi đang băng qua đường.Vị trí va chạm cách mép lề chuẩn là 4,2m. Nguyên nhân xảy ra tai nạn do P điều khiển xe thiếu chú ý quan sát và tránh xe đang qua đường không đảm bảo an toàn, vi phạm khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả ông Gi tử vong, do bị chấn thương sọ não.
Khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định các hành vi bị nghiêm cấm:
“Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”.
Khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định:
“Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.”
Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
…”.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
…”
Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Hoài P đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, tuyên bố bị cáo Trần Hoài P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình người bị hại; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu; bị cáo là lao động chính trong gia đình; cha của bị cáo được tặng Huy hiệu vì nghĩa vụ quốc tế, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, Huân chương chiến công hạng ba; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình Sự. Vì vậy, cần áp dụng Điều 54 của Bộ Luật hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Xét hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả chết người. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để đảm bảo sức răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh công bằng của pháp luật. Tuy nhiên thấy bị cáo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chưa có vợ con, là người lao động chính và đang trực tiếp nuôi mẹ già trên 70 tuổi bị bệnh; đại diện người bị hại xin cho bị cáo hưởng án treo và xét thấy bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP: Có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự; nên áp dụng Điều 65 của Bộ Luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo.
Xét trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án xác định phần trách nhiệm đã thỏa thuận xong, không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, không đề cập.
Về vật chứng, tang vật của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có tạm giữ và đã trả lại xe cho chủ sở hữu là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Trần Hoài P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên bố:
Bị cáo Trần Hoài P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Trần Hoài P: 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (01/6/2022)
Giao bị cáo Trần Hoài P cho Ủy ban nhân dân xã PT, huyện CĐ, tỉnh LA theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo P) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo (bị cáo P) cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Về án phí: Bị cáo Trần Hoài P phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đến vụ án. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh LA (01b);
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Sở Tư pháp tỉnh LA (01b);
- VKSND huyện (01b);
- CQĐT Công an cấp huyện (01b);
- Chi cục THADS huyện (01b);
- Bị cáo (01b);
- Các đương sự (01b);
- Lưu hồ sơ, án văn.
Huỳnh Hữu Nghĩa
Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:
Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn Th theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:
(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).
(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).
(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.
(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán...,đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.
(6)ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).
(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tênKiểm sát viênthực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.
(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).
(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.
(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.
(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thânghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp th́ ghi rõ h ọ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họtên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.
(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự;nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.
(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.
(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].
(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.
(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhâncó liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:
| Nơi nhận: Ghi những nơi mà Tòa án cấp sơ thẩm phải THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA giao hoặc gửi bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 262 của Bộ luật Tố tụng hình sựvà những nơi cần lưu bản án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |