vanban.org

Bản án 21/2022/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thùy D về việc xin ly hôn anh Phạm Thanh T, tuyên xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Phạm Thanh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thùy D Yêu cầu ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HOÀ BÌNH
Số: 21/2022/HNGĐ
Ngày 23/8/2022
Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CÔNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Duy Tuấn

Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hương và bà Ngô Thị Như Hoa

Thư ký toà án ghi biên bản: Ông Ninh Viết Tùng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hòa – Kiểm sát viên.

Ngày 23/8/2022 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hoà Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 119/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 04 năm 2022 về việc: Ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/QĐXX - HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2022/QĐHPT –HĐXX ngày 29/7/2022 giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thùy D, sinh năm 1985.

Bị đơn: Anh Phạm Thanh T, sinh năm 1984

Cùng trú tại: Tổ 01, phường T, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Nguyễn Thùy D trình bày:

Tôi và anh Phạm Thanh T kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn ngày 23/5/2008, tại UBND phường T, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có cưới hỏi theo phong tục.

Sau khi kết hôn vợ chồng tôi sống tại Thái Nguyên được khoảng một tháng thì vợ chồng tôi chuyển về phường T sống cùng với bố mẹ tôi từ đó đến nay.

Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được đến năm 2012. Từ năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, vợ chồng tôi có mở cửa hàng bán máy vi tính nhưng do anh T chơi bời, không tu chí làm ăn, tôi đang làm giáo viên phải bỏ nghề để về trông nom cửa hàng nhưng làm ăn vẫn không có hiểu quả. Năm 2012 anh T bỏ đi đâu khoảng 07 tháng sau đó lại quay về xin lỗi tôi và gia đình. Đến tháng 07 năm 2014 vợ chồng sảy ra mâu thuẫn, anh T đánh tôi sau đó anh T bỏ đi làm ăn xa, khoảng mấy tháng về thăm con một lần sau đó lại đi luôn, tôi có hỏi anh T đi đâu làm gì thì anh T không nói.

Do anh T bỏ đi làm ăn xa, kinh tế gia đình khó khăn nên tôi phải để hai con còn nhỏ ở nhà cho bố mẹ tôi chăm sóc để tôi đi xuất khẩu lao động lấy tiền nuôi con và trả nợ.

Nay vợ chồng ly thân đã lâu, tình cảm phai nhạt dần, tôi có nói chuyện với anh T về việc xin ly hôn thì anh T có nói là anh đang đi làm xa không có thời gian về giải quyết việc ly hôn nên bảo tôi làm đơn đơn phương để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Có 02 con, cháu Phạm Gia K, sinh ngày 02/11/2008; Phạm Minh Kh, sinh ngày 14/11/2012. Khi ly hôn tôi xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai cháu K và cháu Kh. Việc đóng góp nuôi con chung do anh T tự nguyện, tôi không yêu cầu.

Về tài sản chung: Do vợ chồng tôi sống cùng với bố mẹ đẻ tôi, hai vợ chồng lao động do, nuôi con nhỏ, kinh tế gặp nhiều khó khăn nên không có tài sản chung và công sức đóng góp chung.

Về công nợ chung: Vợ chồng tôi không nợ tổ chức tín dụng cá nhân nào.

Bị đơn anh Phạm Thanh T đã được Tòa án gửi thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự nhưng anh T vẫn vắng mặt. Tòa án đã tiến hành xác minh tổ trưởng tổ 01, phường T, Công An phường T, hàng xóm gần nhà chị D và anh T thì được biết anh Phạm Thanh có mở cửa hàng bán máy vi tính, trong quá trình làm ăn, kinh doanh không có hiệu quả, anh T không tu chí làm ăn dẫn đến vợ chồng sảy ra mâu thuẫn, có lần anh T còn đánh chị D có hàng xóm chứng kiến. Từ năm 2014 đến nay anh T đi làm ở đâu không rõ, vài tháng có về gia đình một lần thăm con sau đó lại đi luôn.

Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình đã tiến hành xác minh, niêm yết các giấy tờ tài liệu cho anh T theo quy định của pháp luật.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa :

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký tòa án thực hiện đúng các quy định pháp luật, trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước khi mở phiên tòa. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định của pháp luật tại phiên tòa. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt nơi cư trú đã được Tòa án thực hiện các thủ tục xác minh, thông báo tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ vào các điều 51; 56; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 xử cho chị Nguyễn Thùy D được ly hôn anh Phạm Thanh T.

Về con chung giao cho chị Nguyễn Thùy D được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con Phạm Gia K, sinh ngày 02/11/2008; Phạm Minh Kh, sinh ngày 14/11/2012. Về cấp dưỡng nuôi con chị D chưa yêu cầu anh T cấp dưỡng nên không đề cập.

Về tài sản chung, vay nợ chung, công sức đóng góp chung: không có.

Về án phí: Chị Nguyễn Thùy D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng: Bị đơn anh Phạm Thanh T có hộ khẩu tại tổ 01, phường T, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, căn cứ vào các điều 28; 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.

Tòa án đã gửi các giấy tờ tài liệu, giấy triệu tập cho anh T nhưng anh T không đến Tòa án làm việc. Tòa án tiến hành niêm yết các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật và quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tòa án đã gửi hồ sơ cho Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Hòa Bình nghiên cứu tham gia phiên tòa theo quy định khoản 2 điều 21; khoản 2 điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 29/7/2022 Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử, Tòa án đã niêm yết quyết định đưa vụ án ra xét xử và thông báo phiên tòa cho anh T nhưng tại phiên tòa anh T không có mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.

Phiên tòa được mở lại vào ngày 23/8/2022. Tòa án đã niêm yết quyết định hoãn phiên tòa và thông báo phiên tòa cho anh T nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn xét xử vụ án theo quy định pháp luật.

2. Về nội dung vụ án :

Chị Nguyễn Thùy D và anh Phạm Thanh T có đăng ký kết hôn ngày 23/5/2008, tại UBND phường T, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, có cưới hỏi theo phong tục.

Sau khi kết hôn chị D và anh T sống tại Thái Nguyên được khoảng một tháng thì vợ chồng chuyển về phường T, thành phố Hòa Bình sinh sống cùng với bố mẹ đẻ chị D từ đó đến nay.

Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được đến năm 2012. Từ năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm, chị D và anh T có mở cửa hàng bán máy vi tính nhưng do anh T chơi bời, không tu chí làm ăn, chị D đang làm giáo viên phải bỏ nghề để về trông nom cửa hàng nhưng làm ăn vẫn không có hiểu quả. Năm 2012 anh T bỏ đi đâu khoảng 07 tháng sau đó lại quay về xin lỗi chị và gia đình. Đến tháng 07 năm 2014 vợ chồng sảy ra mâu thuẫn, anh T đánh chị D sau đó anh T bỏ đi làm ăn xa từ đó đến nay, khoảng mấy tháng về thăm con một lần sau đó lại đi luôn, anh T không nói đi đâu làm gì.

Do anh Tùng bỏ đi làm ăn xa, kinh tế gia đình khó khăn nên chị D phải để hai con còn nhỏ ở nhà cho bố mẹ chị D chăm sóc để chị D đi xuất khẩu lao động lấy tiền nuôi con và trả nợ.

Nay vợ chồng ly thân đã lâu, tình cảm phai nhạt dần, không ai quan tâm đến ai, chị D có nói chuyện với anh T về việc xin ly hôn thì anh T có nói là anh đang đi làm xa không có thời gian về giải quyết việc ly hôn và bảo chị D làm đơn yêu cầu ly hôn đến Tòa án để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh T đã trầm trọng, thực tế hai vợ chồng đã ly thân không còn quan tâm gì đến nhau, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị D cho chị Nguyễn Thùy D được ly hôn anh Phạm Thanh T là có căn cứ.

Về con chung: Có 02 con, cháu Phạm Gia K, sinh ngày 02/11/2008; Phạm Minh Kh, sinh ngày 14/11/2012. Hiện tại chị D đang trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xét về điều kiện của chị D có mở cửa hàng bán quần áo tại nhà có thu nhập và có điều kiện chăm sóc con, nguyện vọng của cháu K và cháu Kh muốn được ở với chị D, anh T hiện vắng mặt tại địa phương đi làm ăn xa. Do vậy nên cần chấp nhận yêu cầu xin nuôi con của chị D, giao hai con chung cho chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Việc đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung chị D chưa yêu cầu anh T cấp dưỡng nên không đề cập.

Về tài sản chung, công sức đóng góp chung, công nợ chung không có.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các điều 51; 56; 58; 81; 82; 83; 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thùy D về việc xin ly hôn anh Phạm Thanh T, tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Phạm Thanh T.

2. Về con chung: Giao hai con Phạm Gia K, sinh ngày 02/11/2008 và con Phạm Minh Kh, sinh ngày 14/11/2012 cho chị Nguyễn Thùy D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị Nguyễn Thùy D chưa yêu cầu anh Phạm Thanh T cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Phạm Thanh T có quyền thăm con chung và quyền thay đổi nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thùy D phải chịu 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng ) án phí ly hôn sơ thẩm, được khẩu trừ vào tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0001374 ngày 15/4/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình. Chị D đã nộp xong không phải nộp thêm.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ