vanban.org

Bản án 21/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị C đối với anh Danh Sam B.

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lý Thị C và anh Danh Sam B. Về con chung: Giao cháu Danh Thanh H (nữ), sinh ngày 17/02/2016 cho chị Lý Thị C tiếp tục nuôi dưỡng. Anh B chưa phải cấp dưỡng nuôi cháu H do chị C chưa yêu cầu. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị C đối với anh Danh Sam B.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 16 - 5 - 2022.
V/v tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Ngọc Thới Phần.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đoàn Thị Kim Quyên

2. Bà Trần Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo là Thư ký Toà án nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Mạch Văn Hiểu – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 11/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2022 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2022/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lý Thị C, sinh năm 1991 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp 5, xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

2. Bị đơn: Anh Danh Sam B, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 11, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lý Thị C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2015, chị Lý Thị C và anh Danh Sam B do mai mối và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới. Ngày 18/3/2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã X, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Hôn nhân do anh chị cùng tự nguyện. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng về quan điểm sống, anh B không chăm lo cho cho con cái, khi chị C bệnh cũng không quan tâm chăm sóc. Anh chị đa ly thâñ vớ i nhau từ năm 2019 cho đến nay mặc dù đã tìm cách hàn gắn và động viên nhau nhưng không thể tiếp tục chung sống.

Về con chung: Chị C và anh B có 01 con chung tên Danh Thanh H (nữ), sinh ngày 17/02/2016. Cháu H đang sống chung với chị C. Khi ly hôn chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu H, chưa yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị C khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, chị C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Trong quá trình tiến hành tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh B để tiến hành phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh B đều vắng mặt không lý do nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh B. Anh B cũng không thể hiện ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị C. Tại phiên tòa anh B vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L trình bày quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh B đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Bách.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C, cho ly hôn giữa chị C và anh B; Về con chung: Giao cháu H cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng, anh B chưa phải cấp dưỡng do chị C chưa yêu cầu, anh B được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai có quyền cản trở; Về tài sản chung và nợ chung không có, nên không xem xét; Về án phí buộc chị C phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, để phân tích và đánh giá về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án, hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

. Nguyên đơn chị Lý Thị C khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn anh Danh Sam B và yêu cầu được nuôi con chung. Đối chiếu theo quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 51, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ pháp luật trong vụ kiện này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn, nuôi con” được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

. Bị đơn Danh Sam B đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án không có lý do. Căn cứ vào quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh B nhưng vẫn đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của anh B theo quy định pháp luật.

. Về nội dung vụ án:

. Về quan hệ hôn nhân: Đối với quan hệ hôn nhân, chị C và anh B tự nguyện kết hôn vào năm 2015 có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên hôn nhân của chị C và anh B được xem là hợp pháp. Quá trình chung sống chị C và anh B phát sinh nhiều mâu thuẫn. Chị C cho rằng mâu thuẫn giữa chị và anh B không thể hàn gắn, chị C không thể tiếp tục sống chung với anh B được nữa nên yêu cầu được ly hôn với anh B. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành triệu tập chị C và anh B nhiều lần để hòa giải, động viên anh chị đoàn tụ nhưng anh B vắng mặt không có lý do. Đến thời điểm xét xử chị C vẫn cương quyết xin ly hôn, không thay đổi lời khai, kết hợp với kết quả xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị C và anh B của tòa án. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị C và anh B thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc, chị C và anh B đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay nhưng không thể hàn gắn. Từ đó cho thấy, đời sống chung của vợ chồng chị C và anh B không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ mà chị C yêu cầu xin ly hôn với anh B là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C. Cho chị C và anh B được ly hôn.

. Về con chung: Xét thấy, từ khi chị C và anh B ly thân cho đến nay, cháu H sống chung với chị C, được chị C chăm sóc, nuôi dưỡng tốt. Do đó, để đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống và sự phát triển toàn diện của cháu H nên Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu H cho chị C được tiếp tục nuôi dưỡng. Anh B chưa phải cấp dưỡng nuôi cháu H do chị C chưa yêu cầu. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật, không ai được cản trở.

. Về tài sản chung: Chị C khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về nợ chung: Chị C khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị C phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), đã nộp xong.

. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 273 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Thị C đối với anh Danh Sam B.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lý Thị C và anh Danh Sam B.

2. Về con chung: Giao cháu Danh Thanh H (nữ), sinh ngày 17/02/2016 cho chị Lý Thị C tiếp tục nuôi dưỡng. Anh B chưa phải cấp dưỡng nuôi cháu H do chị C chưa yêu cầu. Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Chị C khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Chị C khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Lý Thị C phải chịu là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị C đã nộp theo lai thu số 0006157 ngày 12/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tống đạt hợp lệ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ