- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng T đối với bà Phùng Tuyết N về việc ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2022/HNGĐ-ST Ngày: 20/01/2022 V/v Ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hưng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đức Hiếu
Ông Nguyễn Tấn Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thảo Vân - Thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 350/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2021 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/01/2022 giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoàng T, sinh năm: 1988. Địa chỉ: 119/8 Nguyễn Công Hoan, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, tp, Đà Nẵng. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Phùng Tuyết N, sinh năm: 1991. Địa chỉ: 119/8 Nguyễn Công Hoan, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, tp, Đà Nẵng. Yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo Đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: ông và bà Phùng Tuyết N kết hôn vào năm 2012, có Giấy đăng ký kết hôn số 72/2012, quyển số 01/2012 ngày 08/6/2012 do Uỷ ban nhân dân phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, tp. Đà Nẵng cấp. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ: 119/8 Nguyễn Công Hoan, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, tp, Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống, đến khoảng tháng 06/2018 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Ông nhận thấy rằng quan điểm sống không hợp nhau, thường xuyên cãi vả, tình cảm phai nhạt nên gia đình không hạnh phúc. Nay ông xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án cho ông được ly hôn với bà Phùng Tuyết N.
Về con chung: Ông bà có 01 con chung là cháu Nguyễn Hoàng Nhật N, sinh năm 2011. Ly hôn, ông có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Hoàng Nhật N cho đến khi cháu đủ 18 tuôi. Không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: ông bà tự thỏa thuận và không yêu cầu giải quyết.
Về nợ chung: ông bà không có nợ ai và không ai nợ ông bà.
* Theo bản tự khai ngày 07/01/2022, bà Phùng Tuyết N trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Hoàng T về quan hệ hôn nhân, quá trình chung sống, mâu thuẫn vợ chồng, con chung, tài sản chung và nợ chung. Bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng T. Về con chung, ông Nguyễn Hoàng T sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng Nhật N cho đến khi cháu đủ 18 tuôi, bà không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, bà Phùng Tuyết N đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đối với bà.
Tại bản trình bày của cháu Nguyễn Hoàng Nhật N thì sau khi ông Nguyễn Hoàng T và bà Phùng Tuyết N ly hôn thì cháu Nam có nguyện vọng được ở với ông Nguyễn Hoàng T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Phùng Tuyết N và yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 BLTTDS và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, nuôi con chung”.
Về thẩm quyền của Tòa án: Bị đơn bà Phùng Tuyết N cư trú tại địa chỉ: 119/8 Nguyễn Công Hoan, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, tp, Đà Nẵng nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS thì Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ có thẩm quyền giải quyết.
Về việc xét xử vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn bà Phùng Tuyết N và bị đơn ông Nguyễn Hoàng T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Phùng Tuyết N và ông Nguyễn Hoàng T tự nguyện kết hôn vào năm năm 2012, có Giấy đăng ký kết hôn số 72/2012, quyển số 01/2012 ngày 08/6/2012 do Uỷ ban nhân dân phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, tp. Đà Nẵng cấp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống một thời gian tại 119/8 Nguyễn Công Hoan, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ, tp, Đà Nẵng từ năm 2012. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống, đến khoảng tháng 06/2018 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông bà đều nhận thấy rằng quan điểm sống không hợp nhau, thường xuyên cãi vả, tình cảm phai nhạt nên gia đình không hạnh phúc. Nay ông bà đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông bà đều có nguyện cọng được ly hôn.
Xét thấy, mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà Phùng Tuyết N và ông Nguyễn Hoàng T đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông bà đều thống nhất ly hôn nên căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Hoàng T đối với bà Phùng Tuyết N.
Về con chung và cấp dưỡng: bà Phùng Tuyết N và ông Nguyễn Hoàng T có 01 con chung cháu Nguyễn Hoàng Nhật N, sinh năm 2011. Ly hôn, ông Nguyễn Hoàng T nuôi dưỡng cháu Nam cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Không yêu cầu bà N cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, tại bản trình bày của ông Nguyễn Hoàng T và bà Phùng Tuyết N thống nhất về việc nuôi dưỡng con chung. Cháu Nam cũng có bản trình bày nguyện vọng được sống chung với ông Nguyễn Hoàng T, sau khi ông bà ly hôn. Do đó, để đảm bảo tính ổn định và những quyền lợi tốt nhất cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn, HĐXX chấp nhận yêu cầu của ông T, tiếp tục giao cháu Nguyễn Hoàng Nhật N cho ông Nguyễn Hoàng T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Bà N không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Phùng Tuyết N và ông Nguyễn Hoàng T xác định vợ chồng không có tài sản chung và không có nợ chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: ông Nguyễn Hoàng T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hoàng T đối với bà Phùng Tuyết N về việc ly hôn.
1. Về quan hệ hôn nhân: ông Nguyễn Hoàng T được ly hôn với Bà Phùng Tuyết N (Giấy đăng ký kết hôn số 72/2012, quyển số 01/2012 ngày 08/6/2012 do Uỷ ban nhân dân phường Khuê Trung, quận Cẩm Lệ, tp. Đà Nẵng cấp).
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Nhật N, sinh ngày: 01/9/2011 cho ông Nguyễn Hoàng T trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với bên nào.
3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: ông Nguyễn Hoàng T N phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001684 ngày 27/12/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Ông Nguyễn Hoàng T đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ; - VKSND quận Cẩm Lệ; - UBND P. Khuê Trung; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Hưng |